- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hương G - Chu Huy H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Chu Huy H, sửa bản án sơ thẩm số 77/2017/HNGĐ-ST ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội và xử:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ——————— Bản án số: 54/2018/HNGĐ-PT Ngày 13/4/2018 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quyết Thắng
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Ông Nguyễn Vũ Đông
Thư ký phiên tòa:
Ông Lưu Việt Thắng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Ông Đỗ Đức Sơn - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2018/LHPT ngày 03 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2017/HNGĐ-ST ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 26/2018/QĐXX-PT ngày 26/02/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2018/QĐ-PT ngày 20/3/2018, giữa:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hương G – sinh năm 1976
HKTT: P1 ngõ 165 tập thể Nhà hát Quân đội – phường Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội
Nơi cư trú: Phòng 210 chung cư A14A1, ô đất A14 Nam Trung Yên, phố Nguyễn Chánh, phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
* Bị đơn: Anh Chu Huy H – sinh năm 1966
HKTT và chỗ ở: Phòng 205, nhà 5 tầng, ngõ 76 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hương G trình bày:
Về tình cảm: Chị và anh Chu Huy H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội vào ngày 18/4/2013. Quá trình chung sống của vợ chồng anh chị hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 10/2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H ghen tuông bệnh hoạn dẫn đến mâu thuẫn kéo dài. Anh H đã nhiều lần xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, đạo đức và tình cảm đối với chị. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là vào khoảng tháng 4/2017, sau nhiều lần xúc phạm chị, anh H có hành vi dùng xe ô tô của mình đâm vào xe ô tô của chị. Do sợ nguy hiểm đến tính mạng, chị G đã trình báo sự việc trên đến Công an phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy nhờ can thiệp và giải quyết. Sau mâu thuẫn, anh chị đã nhiều lần ngồi nói chuyện về những bất đồng giữa vợ chồng để hòa giải, trở về về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Do sợ anh H có những hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe nên chị G đã thuê nhà tại phòng 510, C1 tập thể Nghĩa Tân, đường Trần Tử Bình, quận Cầu Giấy, Hà Nội sinh sống, còn anh H về sống tại P205 - nhà 5 tầng, số 76 đường Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 11/2016 đến nay, mỗi người ở một nơi, kinh tế riêng biệt, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa.
Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chu Huy H.
Về con chung: Chị G và anh H có 01 con chung là Chu Minh Anh (nữ) - sinh ngày 08/3/2014. Khi ly hôn, chị G đề nghị Tòa án giao cháu Minh Anh cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, vì hiện cháu còn nhỏ, lại là con gái nên cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người mẹ. Chị G đang là giảng viên của trường Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội nên công việc ổn định, thu nhập từ lương là 10.400.000đ/tháng, ngoài ra hàng tháng chị còn có thu nhập biểu diễn ở bên ngoài khoảng 10.000.000đ/tháng. Chị có đủ điều kiện về kinh tế, thời gian để chăm sóc, đảm bảo các quyền lợi tốt nhất cho cuộc sống và phát triển của cháu. Bản thân chị cũng nhận thấy chị có nhiều kinh nghiệm nên việc nuôi dạy con sẽ tốt hơn anh H. Hiện tại cháu Minh Anh cũng đang ở với chị. Chị không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung.
Về nợ: Chị G khai vợ chồng anh chị không có khoản vay nợ nào chung và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa giải quyết về nợ.
Đối với Bị đơn là anh Chu Huy H: Tại cấp xét xử sơ thẩm, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, thông báo giao nộp chứng cứ, giấy triệu tập, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh H tham gia phiên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh H đều vắng mặt, không ra Tòa để tham gia phiên hòa giải cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại bản án số 77/2017/HNGĐ-ST ngày 13/11/2017, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã xử và quyết định:
1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hương G đối với anh Chu Huy H. Chị Nguyễn Thị Hương G được ly hôn anh Chu Huy H.
2. Về con chung: Xác nhận chị G và anh H có 01 con chung là Chu Minh Anh (nữ) - sinh ngày 08/3/2014. Ly hôn, giao cháu Minh Anh cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H cho đến khi các bên đương sự có yêu cầu hoặc có quyết định pháp luật khác thay thế. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
4. Về nợ: Sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 22/11/2017, anh Chu Huy H có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử lại từ đầu.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, Bị đơn không rút đơn kháng cáo và các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào.
Anh Chu Huy H trình bày:
Về tố tụng: Anh H cho rằng cấp sơ thẩm đã làm không đúng, bởi anh cư trú thường xuyên tại số phòng 205, nhà số 76 Nguyễn Chí Thanh, nhưng cấp sơ thẩm đã không thông báo cho anh, cho tổ trưởng dân phố và công an khu vực được biết. Anh được biết Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) thông báo rằng anh không có mặt tại địa phương, trong khi anh không đi khỏi địa phương ngày nào, vẫn đưa đón con, nên cấp sơ thẩm không thể không tống đạt được các văn bản tố tụng cho anh. Ngoài ra, trong đơn khởi kiện của chị G không đưa tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để giải quyết, nhưng cấp sơ thẩm không cho anh cơ hội trình bày.
Về tình cảm: Anh H xác định mâu thuẫn vợ chồng hiện tại đã rất lớn, trong thời gian sống ly thân đã có nhiều cãi cọ nhau. Nguyên nhân là do chị G có nhiều cái sai, có người thứ ba và có nhiều việc không trong sáng. Anh đã cho chị nhiều cơ hội, mua nhà cửa, lo lắng cho cuộc sống của hai mẹ con, nhưng chị G lúc đầu thì đồng ý, sau này lại không đồng ý nghe theo anh nữa. Tuy nhiên, anh không nhất trí ly hôn chị G, vì anh vẫn còn tình cảm với chị, vẫn có trách nhiệm với cuộc sống gia đình. Anh sẽ tạo mọi điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Về con chung: Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn, anh H đề nghị cho anh được chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Anh H kháng cáo về việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa tài sản chung của anh chị là ô tô vào giải quyết. Anh đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết tài sản luôn trong vụ án này.
Chị Nguyễn Thị Hương G trình bày:
Về tình cảm: Trong quá trình chung sống, chị G đã phải rất vất vả đi thuê nhà, nuôi con và thuê người giúp việc. Anh H lúc đó ở nhà chị thuê và không kiếm ra tiền. Lúc mới lấy nhau, chị là diễn viên của Nhà hát quân đội nhưng vì anh H có tính ghen tuông, xúc phạm chị rất nhiều khiến chị không thể tiếp tục làm diễn viên được nữa. Trong thời gian giải quyết vụ án, anh H vẫn thường xuyên gây gổ và xúc phạm chị. Chị đã nhiều lần trình báo Công an phường Mai Dịch và phường Yên Hòa về hành động đó. Anh H cho rằng anh đã mua nhà và mời chị về ở và cho chị nhiều cơ hội hàn gắn, nhưng chị không cần những cơ hội này. Đến nay tình cảm của hai người không thể hàn gắn được, chị đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã xét xử.
Về tài sản chung: Đối với kháng cáo của anh H về tài sản, chị G xác định tài sản của vợ chồng có 02 chiếc ô tô, mỗi người đứng tên một xe: Xe đứng tên chị là Toyota Yaris – biển kiểm soát (BKS) 29A-46121, xe đứng tên anh H là Toyota Innova – BKS 29A-20106. Tại phiên tòa, chị G không yêu cầu giải quyết phần này.
Về việc nuôi con chung: Anh H kháng cáo cho rằng chị không đủ điều kiện nuôi con là không đúng. Tuy nhiên nếu anh H có nguyện vọng được nuôi con thì chị đồng ý để anh nuôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Các đương sự và hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét đơn kháng cáo của anh Chu Huy H nằm trong thời hạn nên chấp nhận.
Về nội dung: Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã rất trầm trọng, không còn tin tưởng lẫn nhau, nên cấp sơ thẩm giải quyết cho ly hôn là có căn cứ. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con chung của anh chị là cháu Chu Minh Anh (nữ) - sinh ngày 08/3/2014 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung, do chị G không có yêu cầu giải quyết và anh H không có lời trình bày, nên việc cấp sơ thẩm dành quyền khởi kiện về tài sản cho các đương sự trong một vụ án khác là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm như hướng đã phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của anh Chu Huy H nằm trong thời hạn nên chấp nhận.
Về tố tụng: Tại cấp xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật. Sau nhiều lần không tống đạt được, Tòa án quận Đống Đa đã thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản này tại nhà riêng của anh và tại trụ sở UBND phường Láng Thượng, thông báo cho anh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngày 05/9/2017, khi anh H đến Tòa án quận Đống Đa để nộp đơn khiếu nại, Thẩm phán và Thư ký giải quyết vụ án đã trực tiếp tống đạt các văn bản tố tụng cho anh để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh, nhưng anh không nhận. Như vậy, có cơ sở để xác định anh H đã được thông báo về quá trình giải quyết vụ án, được Tòa án tạo điều kiện để thực hiện các quyền chính đáng của mình, nhưng anh không thực hiện.
Về nội dung:
Về tình cảm: Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã rất trầm trọng, đã có thời gian sống ly thân, cả hai anh chị đều không còn tin tưởng lẫn nhau. Anh H cho rằng chị G có nhiều điều sai và anh đã cho chị cơ hội, nhưng chị G cho rằng đây là do tính ghen tuông của anh và chị không chấp nhận cơ hội mà anh trao cho. Ngoài ra, anh H không đưa ra được phương án nào khác để vợ chồng đoàn tụ. Cuộc sống chung của anh chị như vậy không thể tiếp tục được, nên cấp sơ thẩm giải quyết cho ly hôn là có căn cứ. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của anh H về nội dung này.
Về con chung: Các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tại phiên tòa, nên ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung và công nợ chung: Tại cấp sơ thẩm, chị G không yêu cầu giải quyết, anh H không thực hiện quyền của mình, nên cấp sơ thẩm đã dành quyền khởi kiện về tài sản chung cho các đương sự trong một vụ án khác là có căn cứ. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của anh H về nội dung này.
Về án phí: Anh Chu Huy H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Chu Huy H, sửa bản án sơ thẩm số 77/2017/HNGĐ-ST ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội và xử:
Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hương G đối với anh Chu Huy H. Chị Nguyễn Thị Hương G được ly hôn anh Chu Huy H.
Về con chung: Xác nhận chị G và anh H có 01 con chung là Chu Minh Anh (nữ) - sinh ngày 08/3/2014. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh chị về việc giao cháu Minh Anh cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị G đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Chị G có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và công nợ chung: Dành quyền cho các đương sự giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
2. Về án phí: Anh Chu Huy H không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại anh H 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 6532 ngày 04/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.
Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND Hà Nội; - TAND quận Đống Đa, HN; - Chi cục THADS quận Đống Đa, HN; - UBND phường Láng Thượng, Đống Đa, HN; - Các đương sự; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quyết Thắng |