- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Van H "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2017/HSST Ngày 18 tháng 8 năm 2017. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Luân.
2. Bà Trần Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn H, sinh năm 1982; sinh trú quán: Tổ B, thị trấn Q, huyện K, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Trương Văn T và bà Lê Thị Y; có vợ Nguyễn Thị Hải A và 01 con, sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ ngày 19/6/2017 đến ngày 22/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Y, sinh năm 1959; trú tại: Tổ B, thị trấn Q, huyện K, tỉnh H. (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị Hải An, sinh năm 1985; trú tại: Tổ B, thị trấn Q, huyện K, tỉnh H. (cómặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Trương Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 19 tháng 6 năm 2017, tổ tuần tra Công an huyện Kim Bảng làm nhiệm vụ trên địa bàn tổ Tổ B, thị trấn Q, huyện K, tỉnh H phát hiện thấy Trương Văn H điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 90H5-7337 có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Khi dừng xe, Trương Văn H thả từ lòng bàn tay trái xuống nền đường bê tông nơi H đứng 03 gói nhỏ, bên ngoài đều bọc bằng nilon màu đỏ, bên trong có lớp giấy trắng đều chứa chất bột màu trắng đục. Tổ tuần tra Công an huyện Kim Bảng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ký hiệu QT01, H khai nhận 03 gói nhỏ bị thu giữ là chất ma túy, H cất giấu để sử dụng; ngoài ra còn thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của H đang mặc 02 xi lanh nhựa loại 3ml/cc màu trắng, 02 lọ nước cất loại Novocain chưa sử dụng, số tiền 5.100.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung, 01 xe mô tô, biển kiểm soát 90H5-7337. Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Trương Văn H, không phát hiện, thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 116/PC54-MT ngày 21/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định có tổng trọng lượng là 0,210g, có Heroine.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/HĐĐG ngày 28/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bảng kết luận: Theo giá thị trường thời điểm hiện tại, 01 chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda CLICK, biển kiểm soát 90H5-7337, xe cũ đã qua sử dụng trị giá 5.000.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 55/KSĐT-MT ngày 19/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng… Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố, nhưng xin Hội đồng xét xử cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; lời nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ ngày 19 tháng 6 năm 2017, tại tổ Tổ S, thị trấn Q, huyện K, tỉnh H, tổ tuần tra Công an huyện Kim Bảng bắt quả tang bị cáo Trương Văn H tàng trữ trái phép 03 gói nhỏ chất ma túy, có tổng trọng lượng là 0,210g, có Heroine với mục đích để sử dụng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố để xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mặc dù bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi là trái pháp luật, sẽ bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị, nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của bản thân, bị cáo đã tự đi mua ma túy rồi tàng trữ trái phép để sử dụng cho bản thân, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm gieo rắc cái chết trắng trong cộng đồng dân cư; thể hiện sự liều lĩnh, táo tợn, xem thường kỷ cương pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, nên cần phải xét xử thật nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, trọng lượng ma túy ít; ngoài ra bị cáo có bác ruột là ông Trương Văn Th là Liệt sĩ và có ông ngoại là ông Lê Văn Th là thương binh, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu. Vì vậy khi lượng hình sẽ xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, sự độ lượng khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông tên T ở xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng với số tiền 300.000đồng vào sáng ngày 19/6/2017 để sử dụng, nhưng do H không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đã bán ma túy, nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xác minh, làm rõ được. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với người bán ma túy cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bản thân không nghề nghiệp, không có tài sản gì đáng giá, hiện đang ở nhờ cùng gia đình, việc tàng trữ trái phép chất ma túy không ngoài mục đích để sử dụng cho bản thân, nên thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda CLICK, biển kiểm soát 90H5-7337, được xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, nhưng vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị Hải A không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tuyên trả lại chị A 1/2 giá trị chiếc xe môtô trên, song chị A có yêu cầu xin lại chiếc xe này để làm phương tiện đi lại, xét đây là yêu cầu hợp pháp, cần xem xét trả lại chị A chiếc xe mô tô này với điều kiện buộc chị A phải nộp lại 1/2 giá trị chiếc xe (phần giá trị tài sản của bị cáo Hạnh) để sung quỹ nhà nước; đối với 01 chiếc điện thoại di động cũ, nhãn hiệu SamSung, màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước; riêng số tiền 5.100.000đồng thu giữ của bị cáo được xác định là tài sản hợp pháp của mẹ đẻ bị cáo là bà Lê Thị Y, nhờ bị cáo đi trả nợ hộ tiền mua thức ăn chăn nuôi, không liên quan đến vụ án, cần tuyên trả lại cho bà Y; các vật chứng khác còn lại vụ án như 01 phong bì niêm phong dán kín số 116/PC54-MT ghi mẫu vật hoàn trả ký hiệu QT01, do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả cùng 02 chiếc xi lanh nhựa loại 3ml/cc và 02 lọ nước cất Novocain là vật cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra còn tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 231, 233 và 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trương Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19 tháng 6 năm 2017.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại chị Nguyễn Thị Hải A 01 xe môtô, nhãn hiệu Honda CLICK, biển kiểm soát 90H5-7337, sau khi chị A có trách nhiệm nộp 1/2 giá trị chiếc xe là 2.500.000đồng để sung quỹ nhà nước; trả lại bà Lê Thị Y số tiền 5.100.000đồng; tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động cũ, nhãn hiệu SamSung màu đen; tịch thu, tiêu hủy số 01 phong bì niêm phong dán kín số 116/PC54-MT ghi mẫu vật hoàn trả ký hiệu QT01, do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả cùng 02 chiếc xi lanh nhựa loại 3ml/cc và 02 lọ nước cất Novocain (Tình trạng, số lượng, loại vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 19/7/2017 và theo ủy nhiệm chi số 24 ngày 21/7/2017).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam (để b/c); - VKSND huyện Kim Bảng; - Công an huyện Kim Bảng; - Trại TGCA tỉnh Hà Nam; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Chi cục THADS huyện Kim Bảng; - Lưu: hồ sơ + văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký và đóng dấu) Trần Quang Minh |