- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Văn Th - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 69 Bộ luật Hình sự; Điều 74 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2017/HSST Ngày 19 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Nghiệp - Giáo viên nghỉ hưu thị trấn Hợp Hòa, huyện TD.
2. Bà Hoàng Thị Hanh - Giáo viên nghỉ hưu thị trấn Hợp Hòa, huyện TD.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Xuân Chín, cán bộ Toà án nhân dân huyện TD.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Thùy, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vân Hội, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, Toà án nhân dân huyện TD xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2017/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo: Phạm Văn Th, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1999 (Đến ngày phạm tội thì bị cáo 17 tuổi 07 tháng 09 ngày); nơi cư trú: Thôn ĐT, xã ĐT1, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; con ông Phạm Hà T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giữ ngày 06 tháng 6 năm 2017, bị tạm giam ngày 09 tháng 6 năm 2017 đến nay, (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp và là người bào chữa cho bị cáo:
1. Ông Phạm Hà T, sinh năm 1972; nghề nghiệp: Làm ruộng.
2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; nghề nghiệp: Làm ruộng.
Đều cư trú: Thôn ĐT, xã ĐT1, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc; là bố mẹ của bị cáo Th.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tính: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973, (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Kim Liên - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1998.
Nơi cư trú: Xóm G, xã ĐT, Thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc, (Vắng mặt).
2. Bà Hà Thị Gi, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Thôn TrD, xã ĐT1, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
NHẬN THẤY
Bị cáo Phạm Văn Th bị Viện kiểm sát nhân dân huyện TD truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 12 giờ ngày 06 tháng 6 năm 2017, Phạm Văn Th ở xóm G, xã ĐT, Thành phố VY nhắn tin cho Phạm Văn Th hỏi mua khoảng 700.000đ tiền ma túy đá. Đến 16 giờ cùng ngày, Th gọi điện lại cho Th nói: “Đã có ma túy đá, anh lên lấy không”, Th trả lời: “Tối anh lên” và hẹn gặp nhau ở khu vực ngã ba chợ Diện thuộc thôn Nam Thịnh, xã ĐT1, huyện TD để mua bán ma túy.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Th cùng Đào Mộng Long ở thôn Ngọc Thạch 1, xã An Hòa, huyện TD đi taxi do anh Nguyễn Văn Tuyển ở thôn Tiên Phong, xã ĐT1, huyện TD điều khiển đến điểm hẹn gặp Th. Long ngồi ghế phía trên, Th ngồi ghế phía sau, gặp Th, Th hạ kính xe taxi xuống hỏi Th: “Đồ đâu”, Th đưa cho Th 01 gói nhỏ nilon bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá, Th cầm gói nilon trên tay và đưa cho Th 700.000đ thì bị Công an huyện TD bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trên người Phạm Văn Th 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá, được niêm phong ký hiệu A1, 01 điện thoại di động vỏ màu đỏ bạc. Thu giữ trên người Phạm Văn Th 700.000đ, 01 điện thoại di động vỏ màu xanh; 01 xe mô tô biển kiểm soát 88K1-116.15.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện TD khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn Th tại thôn ĐT, xã ĐT1, huyện TD. Qua khám xét không thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 567/KLGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2017, phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi đến giám định có khối lượng (Trọng lượng) là 0,0876gam (Không kể bao bì) có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, TT67, Nghị định số 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Khối lượng (Trọng lượng) Methamphetamine trong 0,0876gam mẫu là 0,0540gam.
Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, Phạm Văn Th khai ngày 05/6/2017, Th mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000đ của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ tại khu vực bến xe VY thuộc phường Khai Quang, Thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại bản cáo trạng số 49/KSĐT-MT ngày 18 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện TD đã truy tố bị cáo Phạm Văn Th về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự .
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù.
Người đại diện hợp pháp và là người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 69, khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Văn Th 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo Th đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
XÉT THẤY
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TD đã truy tố.
Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 06 tháng 6 năm 2017, tại khu vực ngã ba chợ Diện thuộc thôn Nam Thịnh, xã ĐT1, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện TD bắt quả tang Phạm Văn Th bán trái phép 01 gói ma túy có khối lượng (Trọng lượng) 0,0876gam có Methamphetamine, khối lượng (Trọng lượng) Methamphetamine trong 0,0876gam là 0,0540gam cho Phạm Văn Th ở xóm G, xã ĐT, Thành phố VY với giá 700.000đ. Thu giữ trên người Phạm Văn Th 01 gói nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá, 01 điện thoại di động vỏ màu đỏ bạc; thu giữ trên người Phạm Văn Th 700.000đ, 01 điện thoại di động vỏ màu xanh và 01 xe mô tô biển kiểm soát 88K1-116.15.
Hành vi của Phạm Văn Th đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Điều 194 quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, gây nên sự đau khổ bất hạnh cho nhiều gia đình có người nghiện ma tuý, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Từ tội phạm về ma tuý sẽ dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản… và là nguyên nhân lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm. Bị cáo có sức khoẻ nhưng không chịu lao động, tu dưỡng rèn luyện mà thích ăn chơi đua đòi, hám lợi bất chính nên dẫn đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, có xem xét đến tình tiết bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người chưa Th niên, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo là người chưa Th niên phạm tội, cần áp dụng Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người chưa Th niên phạm tội, do vậy không áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD đối với bị cáo Th và đề nghị của người đại diện hợp pháp và là người bào chữa cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật; đề nghị của bị cáo sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma tuý cho Phạm Văn Th tại khu vực bến xe Khai Quang, Thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc, tuy nhiên do Th không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này, Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được nên tiếp tục xác minh làm rõ đề nghị xử lý sau là phù hợp.
Đối với Phạm Văn Th ở xóm G, xã ĐT, Thành phố VY là người mua ma tuý của bị cáo Th để sử dụng, hành vi của Th chưa đến mức phải xử lý về hình sự, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng biện pháp phạt tiền đối với Th là đúng quy định của pháp luật.
Đối với anh Đào Mộng Long ở thôn Ngọc Thạch 1, xã An Hòa, huyện TD là người đi cùng với Phạm Văn Th, nhưng Th không nói cho anh Long biết việc Th đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Long là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn Tuyển ở thôn Tiên Phong, xã ĐT1, huyện TD là người lái xe taxi đưa Th đến điểm hẹn gặp Th để mua ma túy nhưng anh Tuyển không biết mục đích mua ma túy của Th. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Tuyển là phù hợp.
Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gồm A1 = 0,00gam.
- Số tiền 700.000đ, đây là tiền Th bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn Th mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 điện thoại di động vỏ màu xanh của Phạm Văn Th và 01 điện thoại di động vỏ màu đỏ bạc của Phạm Văn Th, là phương tiện bị cáo Th và Th sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
- 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 88K1-116.15, đây là tài sản hợp pháp của bà Hà Thị Gi ở thôn TrD, xã ĐT1, huyện TD. Ngày 06/6/2017, Phạm V ăn Th mượn chiếc xe trên từ anh Trần Văn Quyết con trai bà Gi. Việc Th sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi bán trái phép chất ma túy bà Gi và anh Quyết không biết, trả lại cho bà Gi chiếc xe.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 69, khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn Th 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06/6/2017).
Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gồm A1 = 0,00gam.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng).
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động của Phạm Văn Th và 01 điện thoại di động của Phạm Văn Th.
- Trả lại cho bà Hà Thị Gi 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 88K1-116.15.
Vật chứng tịch thu tiêu hủy, tịch thu sung quỹ Nhà nước, tài sản trả lại có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/9/2017 giữa Công an huyện TD và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TD.
Áp dụng: Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Phạm Văn Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp và là người bào chữa cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TD; - Chi cục THADS huyện TD; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện TD; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Trần Tiến Dũng |