vanban.org

Bản án 54/2017/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T.

Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H Trung H. Buộc anh Huỳnh Trọng N có trách nhiệm i thư ng thiệt hại do sức khỏe ị xâm phạm cho ông H Trung H với tổng số tiền 2.812.556 đ ng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "bà T và ông H yêu cầu anh H và anh S bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2017/DS-ST
Ngày: 26/9/2017
Về việc: ranh ch p ồi th ng thi t h i
do sức khỏe và tài sản ị xâm ph m”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

hẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ti n D ng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Quốc

2. Ông Nguyễn Văn Trương

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 144/2017/TLST - DS ngày 25 tháng 5 năm 2017 về việc: Tranh ch p i thư ng thiệt hại do sức khỏe và tài sản ị xâm phạm” theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2017/QĐXXST- DS ngày 13 tháng 9 năm 2017 giữa:

Nguyên đơn: 1. Bà Lê Thị Kim T - Sinh năm: 1963; Địa chỉ: p T, x Đ, huyện C, tỉnh H (có mặt)

2. Ông H Trung H - Sinh năm: 1950; Địa chỉ: p T, x Đ, huyện C, tỉnh H (có mặt)

Bị đơn: 1. Anh Huỳnh Trọng N - Sinh năm: 1995; Địa chỉ: Số 250, khu vực P, phư ng T. Quận C, thành phố C. Chổ ở hiện nau: p P, x Đ, huyện C, tỉnh H (vắng mặt)

2. Anh Lê Văn S - Sinh năm: 2000; Địa chỉ: p P, x Đ, huyện C, tỉnh H (vắng mặt)

Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn B (cha anh S) (vắng mặt)

2. Bà Trương Thị Trúc L (mẹ anh S) (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: p P, x Đ, huyện C, tỉnh H

Ng i làm chứng:

Ông Huỳnh Minh C (Có mặt)

Địa chỉ: Số 250, khu vực P, phư ng T. Quận C, thành phố

NỘI DUNG VỤ ÁN:

heo đơn khởi ki n ngày 18/4/2017, quá trình tố tụng và t i phiên tòa nguyên đơn à Lê hị Kim trình bày:

Vào khoảng 18 gi 45 phút, ngày 16/4/2016 anh N đ dùng xe máy chạy đụng vào ngư i à T, sau đo anh N và anh S đ trực ti p gây thương tích cho à T hậu quả à T ị đa ch n thương phải nằm viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện C 7 ngày. Ngoài ra trong lúc xô xát anh N và anh S còn l y của à T 20 chi c vòng vàng đeo tay và 01 đôi ông tai t t cả là vàng 18K. Sự việc đ được cơ quan điều tra Công an huyện C giải quy t nhưng Công an thông áo không khởi tố vụ án hình sự.

Nay à T khởi kiện yêu cầu anh N và anh S có trách nhiệm i thư ng cho à tổng số tiền 56.068.636 đ ng, trong đó tiền thuốc theo toa vé 668.636 đ ng, tiền ăn 7 ngày nằm viện của à Tuy n và ngư i nuôi ệnh 1.400.000 đ ng, tiền công lao động 150 ngày x 80.000 đ ng/ngày = 12.000.000 đ ng, tiền tổn th t tinh thần 12.000.000 đ ng và tiền i thư ng số vàng ị m t là 30.000.000 đ ng. Tuy nhiên bà T chỉ yêu cầu anh N và anh S i thư ng t ng cộng 50.000.000 đ ng. Tại phiên tòa à T yêu cầu i thư ng thiệt hại về tài sản là 31.200.000 đ ng

heo đơn khởi ki n ngày 18/4/2017, quá trình tố tụng và t i phiên tòa nguyên đơn ông Hồ rung H trình bày:

Vào khoảng 18 gi 45 phút, ngày 16/4/2016 anh N và anh S đ trực ti p gây thương tích cho vợ ông là bà T, ông H th y vậy ra can ngăn thì ị N và S đánh vào đầu, vào tay làm ông té gãy tay trái và ị đa ch n thương phải nằm viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện C 7 ngày. Sự việc đ được cơ quan điều tra Công an huyện C giải quy t nhưng Công an thông áo không khởi tố vụ án hình sự lý do tỷ lệ thương tích của ông H chỉ 9% chưa đủ y u tố c u thành tội phạm.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu anh N và anh S có trách nhiệm i thư ng cho ông tổng số tiền 80.730.000 đ ng, trong đó tiền thuốc theo toa vé 1.800.000 đ ng, tiền ti p tục điều trị sau ra viện 1.280.000 đ ng, tiền đi giám định pháp y 1.600.000 đ ng, tiền ăn 7 ngày nằm viện của ông 700.000 đ ng và trả tiền cho ngư i nuôi ệnh 350.000 đ ng, tiền công lao động 150 ngày x 100.000 đ ng/ngày là 15.000.000 đ ng, tiền i thư ng về sức khỏe ị ảnh hưởng lâu dài là 30.000.000 đ ng, tiền tổn th t tinh thần 30.000.000 đ ng.

Bị đơn anh Huỳnh rọng N theo bản tự khai (Bl 161) trình bày: Thừa nhận ngày 16/4/2016 có đ n gặp bà T để nói chuyện về việc vì sao à T vào nhà anh N sống, trong khi cha mẹ anh N chưa ly hôn, nhưng chưa kịp nói gì thì à T chửi anh N còn kêu ch ng là ông H và con trai ra đánh anh N và nắm giữ anh N lại, vì quá hoảng sợ anh N đ vùng ra để thoát thân lên xe máy ỏ chạy. Quá trình điều tra tại Công an huyện C anh N thừa nhận trong lúc vùng ra ỏ chạy có xô tay làm ông H té, nên đ ng ý i thư ng tiền thuốc và tiền công lao động theo quy định của pháp luật cho ông H. Đối với yêu cầu của à T anh N không đ ng ý vì anh không có gây thương tích và c ng không có l y vàng của à T nên anh không đ ng ý i thư ng cho à T.

Bị đơn anh Lê Văn S theo ản tự khai (Bl 57-58) trình bày: Thừa nhận ngày 16/4/2016 th y anh N chạy xe máy nên có chạy xe đạp theo anh N để đi gặp à T, khi đ n nơi anh S dừng xe ở xa quan sát th y à T chửi anh N còn kêu ngư i đánh anh N, th y anh N ỏ chạy, anh S sợ quá c ng quay xe đạp ỏ chạy về nhà, anh S chỉ đứng ngoài nhìn không có tham gia đánh à T và ông H, c ng như không có l y tài sản gì của à T. Do đó anh S không đ ng ý i thư ng theo yêu cầu của à T và ông H.

Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B và à Nguyễn hị rúc L theo ản tự khai (bl 45-46) trình bày: Ngày 16/4/2016 Lê Văn S là con của ông B và bà L có theo anh N đi gặp à T, khi đ n nơi S chỉ đứng từ xa nhìn không có tham gia đánh à T và ông H và c ng không có l y tài sản gì của à T. Do đó không đ ng ý i thư ng theo yêu cầu của à T và ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán – Hội đ ng xét xử đ tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng, những ngư i tham gia tố tụng ch p hành đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đ ng xét xử giải quy t vụ án theo quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604, Điều 609, Điều 611 Bộ luật dân sự 2005; Nghị Quy t số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H Trung H, buộc anh Huỳnh Trọng N b i thư ng cho ông H số tiền 2.812.556 đ ng. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T. Do ông H và bà T thuộc diện hộ nghèo nên miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn anh Huỳnh Trọng N phải nộp 300.000 đ ng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài li u, chứng cứ đã đ ợc thẩm tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: tại phiên tòa hôm nay ị đơn anh N, anh S và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông B và à L vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đ ng xét xử vẫn ti n hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Vào ngày 16/4/2016 à T và ông H có xảy ra cự cải với anh N, trong lúc cự cải có sự giằng co giữa đôi ên, vì ị à T và ông H nắm giữ không cho đi nên anh N đ vùng ra để thoát thân, trong lúc này anh N thừa nhận có xô ông H té nhưng không i t ông H té ở đâu. Đ ng th i theo iên ản l y l i khai tại cơ quan điều tra của Công an huyện C (bl 83-86) xác định anh N có xô ông H té xuống lộ nông thôn. Hậu quả ông H ị gãy 1/3 giữa xương trục tay trái phải đi điều trị tại ệnh viện đa khoa huyện C. Do đó ông H yêu cầu anh N i thư ng thiệt hại về sức khỏe là có căn cứ, đúng pháp luật theo Điều 604 Bộ luật dân sự và Nghị quy t 03/2006/NQ – HĐTP của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Anh S không thừa nhận có gây thương tích cho ông H và ông H c ng không có chứng cứ chứng minh anh S gây thương tích cho ông và tại phiên tòa ông H c ng trình ày anh S không có gây thương tích cho ông H nên không có căn cứ uộc anh S i thư ng theo yêu cầu của ông H

Đối với yêu cầu của bà T về sức khỏe mặc dù à T có những v t thương xây xát ngoài da nhưng trong quá trình điều tra tại Công an huyện C và tại phiên tòa hôm nay bà T không chứng minh được những v t thương của à T là do anh N và anh S gây ra và anh N, anh S c ng không thừa nhận gây thương tích cho à T, đ ng th i theo k t luận giám định pháp y về thương tích của à T có tỷ lệ thương tích là 0% (bl 38). Việc à T yêu cầu anh N và anh S i thư ng thiệt hại tài sản là số vàng ị m t c ng không có căn cứ, ởi lẽ à T không chứng minh được thiệt hại và Công an huyện C đ có thông áo ( l 51) k t luận nội dung tin áo cướp tài sản là không có sự việc phạm tội xảy ra. Từ những phân tích trên nên không có cơ sở xem xét yêu cầu của à T

Xét các khoản chi phí điều trị, tiền m t thu nhập, tiền ăn, tiền xe đi điều trị của ông H yêu cầu i thư ng các khoản chi phí với tổng số tiền là: 80.730.000 đ ng. Qua xem xét các khoản chi phí theo đơn khởi kiện, đối chi u với quy định tại mục 1, phần II Nghị quy t số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đ ng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các khoản chi phí theo yêu cầu của ông H là chưa phù hợp với thiệt hại thực t ị m t. Hội đ ng xét xử chỉ ch p nhận các khoản chi phí hợp lý, cụ thể như sau:

- Tiền thuốc theo toa vé hợp lệ: 922.556 đ ng.

- Tiền xe: đi khám tại ệnh viện đa khoa huyện C đi và về mỗi lần 30.000 đ ng. Hội đ ng xét xử ch p nhận 3 lần g m: đi nhập viện 17/4, tái khám 02 lần. Với số tiền: 3 lần x 30.000 đ ng/lần = 90.000 đ ng.

- Tiền thu nhập thực t ị m t: sự việc xảy ra chiều ngày 16/4/2016 ông H đi điều trị nhập viện ngày 17/4/2016 xu t viện về phải có th i gian nghỉ dưỡng do đó ông H yêu cầu ngày công lao động là có căn cứ. Tuy nhiên ông H yêu cầu 150 ngày là không phù hợp. Do đó Hội đ ng xét xử chỉ ch p nhận 6 ngày nằm viện với 9 ngày ở nhà uống thuốc điều trị và nằm nghỉ dưỡng tổng cộng là 15 ngày, ông H yêu cầu mỗi ngày 100.000 đ ng là phù hợp với thu nhập trung ình tại địa phương nên Hội đ ng xét xử ch p nhận. Vậy 15 ngày x 100.000 đ ng/ngày = 1.500.000 đ ng.

- Tiền thu nhập thực t của ngư i nuôi ệnh: Theo gi y ra viện của Bệnh viện đa khoa huyện C ( l 118) xác định ông H vào viện ngày 17/4/2016 và ra viện ngày 22/4/2016, tức ông H nằm viện 6 ngày, với thương tích của ông H thì ông cần có ngư i chăm sóc lúc nằm viện là phù hợp ông H đ trả tiền thuê ngư i nuôi ệnh nên số tiền này sẽ được giao cho ông H. Do đó Hội đ ng xét xử ch p nhận tiền của ngư i nuôi ệnh 6 ngày mỗi ngày 50.000 đ ng x 6 ngày = 300.000 đ ng.

Đối với yêu cầu ù đắp tổn th t về tinh thần và tiền ị ảnh hưởng sức khỏe lâu dài, ản thân ông H không cung c p được chứng cứ gì khác chứng minh sự việc xảy ra ảnh hưởng đ n nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao ti p, sinh hoạt của ản thân nên không có căn cứ để ch p nhận.

Về khoản tiền i thư ng thiệt hại do sức khỏe ị xâm phạm cho ông H. Tại phiên tòa ông H chỉ yêu cầu anh N i thư ng thiệt hại về sức khỏe vì anh S không có gây thương tích cho ông H và anh N c ng thừa nhận có xô ông H té nên uộc anh N có trách nhiệm i thư ng cho ông H với tổng số tiền 2.812.556 đ ng là phù hợp.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh N phải chịu 5% trên tổng số tiền phải i thư ng cho ông H. Bà T và ông H được miễn án phí đối với yêu cầu i thư ng thiệt hại về sức khỏe không được ch p nhận. Đối với yêu cầu i thư ng thiệt hại về tài sản không được ch p nhận à T được miễn án phí do gia đình có sổ hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 604, 605, 608, 609 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quy t số 03/2006/NQ – HĐTP của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Các Điều 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T.

Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H Trung H.

Buộc anh Huỳnh Trọng N có trách nhiệm i thư ng thiệt hại do sức khỏe ị xâm phạm cho ông H Trung H với tổng số tiền 2.812.556 đ ng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án cho đ n khi thi hành xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành hành án theo mức l i su t quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Huỳnh Trọng N phải nộp 300.000 đ ng

Bà Lê Thị Kim T và ông H Trung H được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho à Lê Thị Kim T 750.000 đ ng số tiền tạm ứng án phí đ nộp theo iên lai số 0009617 ngày 25/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh H.

“Tr ng hợp ản án đ ợc thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng i đ ợc thi hành án dân sự, ng i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguy n thi hành án hoặc c ỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, Điều 7a Luật sửa đổi, ổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự, th i hi u thi hành án đ ợc thực hi n theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc ản án được niêm y t.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ