- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ái K:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí Tòa án; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 539/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-8-2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Thanh Hương - Nguyên là Hiệu trưởng Trường mầm non Tân Quy.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh - Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Quận 7.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan là Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2022/HNST ngày 20 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ái K, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ái K và bà Nguyễn Thị Ngọc T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/8/2011.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng ông phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, lối sống; vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm chia sẻ. Ông đã nói chuyện hòa giải với vợ nhưng không có tiếng nói chung và bà T đã bỏ nhà đi đâu không rõ, vợ ông cũng không về thăm hay gọi điện hỏi thăm con. Ông thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tiếp tục chung sống với bà T được nữa nên ông yêu cầu ly hôn với bà Trâm để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Như N, sinh ngày 19/9/2012. Sau khi ly hôn thì ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.
Về cấp dưỡng: Ông K không yêu cầu bà Trâm cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn - Bà Nguyễn Thị Ngọc T: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Sau khi Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà T thì bà T có văn bản đề ngày 27/7/2022 gửi cho Tòa án, theo đó bà T đồng ý ly hôn với ông K; về con chung: bà T đồng ý giao con chung cho ông K được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn; về tài sản chung: bà T xác nhận không có. Đồng thời bà T đề nghị được vắng mặt trong phiên tòa xét xử.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và nhận định như sau:
Về pháp luật tố tụng dân sự:
Ông Nguyễn Ái K khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T; Địa chỉ: đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Ái K về việc yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Nguyễn Ái K và bà Nguyễn Thị Ngọc T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển số 01/2011 ngày 30/8/2011 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng với quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo ông K trình bày thì trong thời gian chung sống, vợ chồng ông phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, lối sống; vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm chia sẻ. Ông đã nói chuyện hòa giải với vợ nhưng không có tiếng nói chung và bà T đã bỏ nhà đi đâu không rõ, vợ ông cũng không về thăm hay gọi điện hỏi thăm con. Ông thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tiếp tục chung sống với bà T được nữa. Do đó, ông K yêu cầu ly hôn với bà T để ổn định cuộc sống.
Tòa án đã tiến hành xác minh đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ phường T, Quận G để tham khảo nhưng kết quả không thể hiện việc mâu thuẫn của vợ chồng ông K. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để vợ chồng ông K hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng ông K cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà T để ổn định cuộc sống.
Đối với bà T, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, nhưng bà không đến Tòa giải quyết vụ án, bà cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của ông K. Sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bà T đã gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đề ngày 27/7/2022, theo đó bà T đồng ý ly hôn với ông K. Như vậy, bà T không phản đối mà đã đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K. Căn cứ vào Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì những tình tiết, sự kiện mà ông K đã trình bày là có căn cứ.
Xét thấy, hôn nhân giữa ông K và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của ông K về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì ông K và bà T có 01 con chung tên Nguyễn Như N, sinh ngày 19/9/2012.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của trẻ và trẻ đã trình bày nguyện vọng được sống cùng với cha vì từ trước đến nay trẻ đã sống cùng cha và ông bà nội.
Bà T đã có văn bản trình bày ý kiến, theo đó bà đồng ý giao con chung cho ông K trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.
Xét thấy, ông K hiện đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chứng tỏ ông K có đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, hơn nữa việc tiếp tục giao con chung cho ông K trực tiếp nuôi là cần thiết đảm bảo ổn định tâm lý, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của ông K sau khi ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Ông K không yêu cầu bà T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông K và bà T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về tranh chấp hôn nhân và gia đình do nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 3 Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ái K:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ái K được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.
(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển số 01/2011 ngày 30/8/2011 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh)
1.2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Như N, sinh ngày 19/9/2012 cho ông Nguyễn Ái K được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng: Ông K không yêu cầu bà Trâm cấp dưỡng.
Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do ông K phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0014371 ngày 20/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, như vậy ông K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Ái K và bà Nguyễn Thị Ngọc T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:
| - Các đương sự; - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Q. 7; - Chi cục Thi hành án dân sự Q. 7; - Cơ quan đã thực hiện đăng ký kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ, (TK. Loan). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Khắc Dương |