- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Thành"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 537/2019/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bay;
2. Bà Lê Thị Kim Anh;
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền– Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2019/TLST–HNGĐ ngày 22/01/2019 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 7 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 122/2019/QĐHPT-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1992
Địa chỉ: F9/17 Ấp 6, xã VL.A, huyện B, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1985
Địa chỉ: F9/17 Ấp 6, xã VL.A, huyện B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm N trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn T chung sống với nhau vào năm 2017, có tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VL.A, huyện B, Thành phố H. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T ham mê cờ bạc nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Chúng tôi đã ly thân từ tháng 5/2018 đến nay.
Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Anh T1, sinh ngày 21/3/2018, giới tính nữ; hiện con đang sống chung với bà.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay bà yêu cầu ly hôn với ông T. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi con chung,
không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Cẩm N và ông Huỳnh Văn T.
2. Về con chung: Giao trẻ Huỳnh Nguyễn Anh T1, giới tính nữ, sinh ngày 21/3/2018 cho Bà N nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà N không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Hai bên xác định không có
4. Về nợ chung: Hai bên xác định không có
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Cẩm N yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn T đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 84 do Ủy ban nhân dân xã VL.A, huyện B, Thành phố H cấp ngày 25/5/2017, giữa bà Nguyễn Thị Cẩm N và ông Huỳnh Văn T là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà N và ông T đã sống ly thân với nhau. Đời sống chung vợ chồng của Bà N và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xung đột cãi vã, không quan tâm chia sẽ các vấn đề trong cuộc sống với nhau.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa Bà N và ông T tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, hai bên đều không có thiện chí hàn gắn.
Mặt khác, tại Công văn 970/UBND ngày 04/4/2019 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh xác nhận tình trang hôn nhân gia đình thì giữa bà N và ông T có phát sinh nhiều mâu thuẫn do cả hai không hòa hợp trong cuộc sống. do đó yêu cầu của bà N. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm N là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét chấp nhận.
Ông Huỳnh Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do đó ông T phải chịu hậu quả của việc vắng mặt này.
Về con chung: Giữa Bà N và ông T có 01 (một) con chung tên Huỳnh Nguyễn Anh T1, giới tính nữ, sinh ngày 21/3/2018. Sau khi ly hôn, Bà N yêu cầu được nuôi trẻ Anh T1 và bà không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trẻ Anh Thư đang sống chung với Bà N và có mong muốn sống chung với bà N. Bà N cũng đã chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho trẻ Anh T1. Nếu thay đổi việc nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ Hội đồng xét xử nghĩ nên giao trẻ Anh Thư cho Bà N nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà N không yêu cầu ông T thực nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Huỳnh Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà N tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án cũng không đặt ra để giải quyết.
Về nợ chung: Bà N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án cũng không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Cẩm N và ông Huỳnh Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 84 do Ủy ban nhân dân xã xã VL.A, huyện B, Thành phố H cấp ngày 25/5/2017 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Huỳnh Nguyễn Anh T1, giới tính nữ, sinh ngày 21/3/2018 cho Bà N nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà N không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Huỳnh Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà N tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án cũng không đặt ra để giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án cũng không đặt ra để giải quyết.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2018/0006731 ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND TP.HCM ; -VKSND TP.HCM; -VKSND H.BC; -Chi cục THADS H.BC; -UBND xã VL. A, H. B; -Các đương sự; -Lưu VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |