- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 273, 278 và Điều 280 của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 535/2019/DS-ST Ngày: 28/11/2019 |
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu Thuận Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Phương; 2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân; - Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Việt Anh. Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 (số 172 Ông Ích Khiêm, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 391/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2019/QĐXXST-DS ngày 17/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2019/QĐST-DS ngày 07/11/2019 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V; địa chỉ: 89 đường Láng H, phường Láng H, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lưu Hùng T; địa chỉ: Tầng 2 Tòa nhà ACM, số 96 Cao T, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V; có mặt; Bị đơn: Ông Lương Quốc T1; địa chỉ: 567Bis đường Bình Thới, Phường 10, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 29/5/2019, bản tự khai, tại các phiên bản hòa giải và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (VPBank) đã cấp tín dụng cho ông Lương Quốc T1, theo những Hợp đồng mà ông Lương Quốc T1 đã ký với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (VPBank) - Chi nhánh Hồ Chí Minh là: Hợp đồng tín dụng tiểu thương số LD1636202579, với số tiền là 74.500.000 đồng giải thời
hạn 24 tháng giải ngân ngày 27/12/2016 (Căn cứ vào giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số 20161227-0008327 ngày 22/12/2016) mục đích vay vốn kinh doanh. Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Phía Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông Lương Quốc T1 thanh toán, nhưng ông Lương Quốc T1 cố tình tránh né không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V quyết định khởi kiện ông Lương Quốc T1 ra Tòa án Nhân dân Quận 11, Tp.Hồ Chí Minh để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán của ông Lương Quốc T1 đối với hợp đồng trên như sau: - Hợp đồng tín dụng tiểu thương số LD1636202579, với số tiền là 74.500.000 đồng giải thời hạn 24 tháng giải ngân ngày 27/12/2016 (Căn cứ vào giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số 20161227-0008327 ngày 22/12/2016) mục đích vay vốn kinh doanh. Tính từ thời điểm giải ngân đến nay, ông Lương Quốc T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình được 29 lần từ ngày 28/11/2016 đến ngày 28/03/2019. Cụ thể ông Lương Quốc T1 đã đóng 47.745.087 đồng trong đó có 25.488.516 đồng tiền gốc mà ông Lương Quốc T1 đã vay và 22.256.571 đồng là số tiền lãi đã trả. Kể từ thời điểm 27/12/2018 đến nay, ông Lương Quốc T1 không nộp thêm bất cứ khoản tiền nào vào tài khoản trả nợ. Kể từ ngày 02/12/2017 khoản vay của ông Lương Quốc T1 tại VPBank chuyển sang nợ quá hạn, ông Lương Quốc T1 phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh với mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (Căn cứ khoản 4 Điều 2 Bộ điều khoản và Điều kiện về vay không có tài sản bảo đảm phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng cá nhân đính kèm vào giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số 20161227-0008327 ngày 22/12/2016). Tạm tính đến hết ngày 28/11/2019 tổng dư nợ đối với hợp đồng tín dụng của ông Lương Quốc T1 tại VPBank là 107.566.518 đồng. Trong đó nợ gốc là 49.011.481 và nợ lãi là 58.555.034 đồng Đề nghị Quý Tòa Buộc ông Lương Quốc T1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 28/11/2019 là 107.566.518 đồng. Ngoài ra, ông Lương Quốc T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký, kể từ ngày 29/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu nêu trên. 2. Tại phiên Tòa bị đơn ông Lương Quốc T1 trình bày: Ông T1 xác định có ký kết hợp đồng vay tài sản với TMCP Việt Nam Thịnh V, tính đến thời điểm hiện tại ông còn nợ Ngân hàng số tiền 107.566.518 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông T1 đề nghị nguyên đơn tạo điều kiện để ông T1 trả mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi thanh toán hết số nợ cho Ngân hàng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm về việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. - Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 về việc giải quyết vụ án như sau: Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát nhân dân Quận 11 có ý kiến: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lương Quốc T1, thanh toán cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 27/11/2019 là 107.566.518 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Xét về quan hệ pháp luật: Ông Lương Quốc T1 có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V, có cơ sở xác định giữa T1 và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản, đây là tranh chấp vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bà Thanh cư trú tại địa chỉ 567Bis đường Bình Thới, Phường 10, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Hội đồng xét xử xét yêu cầu của nguyên đơn: - Về nợ gốc: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V và ông Lương Quốc T1 có ký Hợp đồng tín dụng (Giấy mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn) ngày 22/12/2016 với nội dung Ngân hàng cho ông T1 vay số tiền 74.500.000đ, thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất vay 38%/năm. Ngân hàng yêu cầu ông Lương Quốc T1 phải thanh toán tổng số tiền là 49.011.481 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lương Quốc T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi và nợ gốc được quy định trong hợp đồng. Ngân hàng đã có thông báo nhắc nhở nhưng ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, căn cứ vào Khoản 1 Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “ Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” và căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 24 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) quy định như sau: “Khách hàng vay có nghĩa vụ trả nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng”. Từ những quy định pháp luật nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc còn lại là 49.011.481 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về tiền lãi: Tại khoản mục 1 Phần 8 Giấy đăng ký vay tiêu dùng, vay kinh doanh cá nhân, nở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử hai bên ký kết đã thỏa thuận lãi suất 38%/năm. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật’’ và tại Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước cũng quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng”. Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn theo Hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi tính đến ngày 28/11/2019 là 58.555.034 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Xét ý kiến của bị đơn Ông T1 xác định còn ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V và hiện còn nợ số tiền tạm tính đến ngày 28/11/2019 tổng số tiền ông T1 còn nợ là 107.566.518 đồng bao gồm nợ gốc (vốn và lãi trả góp) là 49.011.481 đồng và nợ lãi là 58.555.034 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có việc làm nên ông T1 đề nghị nguyên đơn tạo điều kiện cho ông T1 trả mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi thanh toán hết nợ, đề nghị này không được nguyên đơn chấp thuận. Do đó, Hội đồng xét xử xét thất, không có cơ sở chấp nhận đề nghị của ông T1. Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lương Quốc T1 có nghĩa vụ thanh toán 107.566.518 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V là có cơ sở chấp nhận. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lương Quốc T1 trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 28/11/2019 tổng số tiền là 107.566.518 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. [4] Án phí dân sự sơ thẩm: - Ông Lương Quốc T1 phải chịu theo 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. - Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V. [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 40, Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, 278 và Điều 280 của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án; Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V. Buộc ông Lương Quốc T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V tổng số tiền tính đến ngày 28/11/2019 là 107.566.518 đồng. Đồng thời ông Lương Quốc T1 phải tiếp tục chịu tiền lãi trên dư nợ gốc còn thiếu tính từ ngày 29/11/2019 đến ngày ông Lương Quốc T1 trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký. Thanh toán khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Lương Quốc T1 phải nộp án phí là 5.378.326 đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.054.107 đồng theo biên lai thu số AA/2016/0010310 ngày 27/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. 4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hiếu Thuận |