- Tranh chấp gì? án hành chính — "Lý Thị Tuyết P"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lý Thị Tuyết P đòi hủy Quyết định số
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 533/2020/HC-PT Ngày 15 tháng 9 năm 2020 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hồng Phong
Bà Trần Thị Thúy Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 227/2020/TLPT-HC ngày 09 tháng 3 năm 2020 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2019/HC-ST ngày 28 tháng 11 năm
2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3307/2020/QĐ-PT
ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Lý Thị Tuyết P. Địa chỉ: Khu vực B, phường V, thị
xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn
Quốc S, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số 42, Đường V1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư
Trần Minh T - Công ty luật miền Tây, thuộc Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Như L- Phó Chủ tịch (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty Cổ phần Đầu tư – Xây dựng Hồng Phát. Địa chỉ: Số 212A,
Đường 30/4, Phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Bích N1 (có mặt).
Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 (có đơn xin xét xử
vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng A (có mặt).
Ông Nguyễn Viết T2. Địa chỉ: Khu vực B, phường V, thị xã Long Mỹ,
tỉnh Hậu Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Lý Thị Tuyết P là
ông Nguyễn Văn Quốc S trình bày:
Bà Lý Thị Tuyết P bị thu hồi phần đất diện tích 167,3m2 loại đất ở đô thị,
tọa lạc tại ấp Hòa Phụng B, thị trấn Kinh Cùng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang để thực hiện dự án Khu dân cư và Trung tâm thương mại Hồng Phát. Phần đất này vào năm 2010 đã được quy hoạch thu hồi, chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát (gọi tắt là Công ty Thành Phát), tuy nhiên dự án kéo dài cho đến năm 2017 thì mới tiếp tục thực hiện dự án nhưng thay đổi chủ đầu tư từ Công ty Thành Phát thành Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hồng Phát (gọi tắt là công ty Hồng Phát).
Đến năm 2017 bà Tuyết P nhận được Quyết định số 5474/QĐ-UBND
(gọi tắt là Quyết định số 5474) ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp về việc thu hồi đất của bà Lý Thị Tuyết P, hủy một phần Quyết định 5475/QĐ-UBND (gọi tắt là Quyết định số 5475) ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với bà Lý Thị Tuyết P. Do không đồng ý với việc bồi thường bà Tuyết P khiếu nại, ngày 04/3/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân (gọi tắt là UBND) huyện Phụng Hiệp ban hành Quyết định số 1264/QĐ-UBND (gọi tắt là Quyết định số 1264) về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Tuyết P, với nội dung không đồng ý với khiếu nại của bà Tuyết P.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 79 của Luật đất đai năm 2013, Điều 6
Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, trường hợp không còn đất ở, nhà ở trên cùng xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở. Bà Tuyết P không còn chỗ ở khác tại nơi bị thu hồi đất nên bà P khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu hủy các quyết định, bồi thường bằng đất ở theo quy định của pháp luật để ổn định đời sống, bà P chấp nhận nộp chi phí cơ sở hạ tầng chứ không đồng ý nhận tiền bồi thường.
Do đó, bà Lý Thị Tuyết P khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số
5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp về việc thu hồi đất của bà Lý Thị Tuyết P, hủy một phần Quyết định 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với bà Lý Thị Tuyết P, hủy Quyết định số 1264/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch UBND huyện Phụng Hiệp về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Lý Thị Tuyết P yêu cầu được bồi thường bằng đất ở theo đủ diện tích đã thu hồi là 167,3m2 loại đất ở đô thị và bà Tuyết P đồng ý trả chi phí cơ sở hạ tầng.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Phụng Hiệp, Chủ tịch
UBND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang là ông Lê Như L trình bày:
Dự án quy hoạch xây dựng Khu dân cư và thương mại thị trấn Kinh
Cùng, huyện Phụng Hiệp đã được quy hoạch trước thời điểm chia tách tỉnh Hậu Giang, thời gian quy hoạch kéo dài do chưa tìm được nhà đầu tư để đầu tư dự án. Dự án này thực hiện với mục đích chỉnh trang đô thị, phát triển kinh tế tại địa phương, xây dựng khu thương mại. UBND tỉnh có chủ trương về việc đầu tư xây dựng Khu dân cư và Thương mại thị trấn Kinh Cùng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tại Công văn số 2516 ngày 16/12/2010. Ngày 25/7/2011 UBND ban hành Quyết định 6613/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Năm 2010 thì UBND huyện Phụng Hiệp đã thực hiện dự án, đã thu hồi đất và bồi thường một số hộ dân trước, đã thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với một số hộ dân. Dự án thực hiện trước khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực nên áp dụng Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ.
Do năm 2014 Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực nên UBND huyện Phụng
Hiệp tạm dừng thực hiện dự án để xin ý kiến của UBND tỉnh Hậu Giang. Ngày 23/6/2014 UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Công văn số 849/QĐ-UBND về điều chỉnh dự án về diện tích thu hồi trong dự án. Đến năm 2016 có chủ trương cho thực hiện dự án chuyển tiếp thì dự án mới được tiếp tục. Ngày 03/10/2016 UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Công văn số 1604/UBND-KT về việc chủ trương tiếp tục thực hiện dự án này.
Căn cứ ban hành quyết định bị kiện: Về trình tự, thủ tục thực hiện dự án
thì UBND huyện Phụng Hiệp căn cứ vào Luật đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, UBND huyện Phụng Hiệp thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đối với dự án thì nếu dự án mới hoàn toàn thì phải áp dụng theo Điều 62 của Luật đất đai, nhưng các dự án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 99 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thì các dự án đã triển khai thực hiện trước khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thì phải thực hiện theo quy định tại điều này. UBND tỉnh Hậu Giang đã giao đất cho Công ty Thành Phát vào năm 2010 là 12 ha đất, đến năm 2014 thì UBND tỉnh Hậu Giang giao cho công ty Hồng Phát là 5,4 ha đất. Lý do việc thu hẹp diện tích thu hồi do phải tránh đường tránh Kinh Cùng, dự án chỉ bị thu hẹp chứ không thay đổi vị trí.
UBND tỉnh Hậu Giang và UBND huyện Phụng Hiệp đã kết thúc với chủ
đầu tư cũ là công ty đầu tư Thành. Năm 2014, UBND tỉnh Hậu Giang có chủ trương tiếp tục dự án, nên các quyết định được ban hành từ năm 2010 đến năm 2014 UBND huyện Phụng Hiệp đã ban hành quyết định thu hồi tất cả các quyết định đã ban hành. Các quy trình thực hiện dự án của nhà đầu tư trước đây đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Khi UBND tỉnh Hậu Giang cho chủ trương chuyển tiếp dự án thì UBND huyện Phụng Hiệp đã thực hiện lại dự án theo Luật đất đai năm 2013 như một dự án mới, hủy các quyết định sau khi có chuyển tiếp dự án. Căn cứ vào Điều 99 của Nghị định 43 thì việc chuyển tiếp đúng quy định của pháp luật. Khi thay đổi diện tích đất thu hồi thì UBND huyện Phụng Hiệp thu hồi lại các quyết định thu hồi đất có triển khai cho dân đầy đủ. Giá đất cũng đã thực hiện theo đúng Luật đất đai năm 2013.
Ngày 01/10/2019 UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Công văn số
2302/UBND-TCD với nội dung “Thống nhất chủ trương thực hiện bồi thường bằng đất ở đối với các trường hợp bị thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn thị trấn Kinh Cùng nơi có đất ở bị thu hồi để thực hiện dự án ……”. Căn cứ vào Công văn nêu trên của UBND tỉnh, UBND huyện Phụng Hiệp ban hành Quyết định số 6659/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 về việc điều chỉnh một phần Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp. Nay UBND huyện Phụng Hiệp và Chủ tịch UBND huyện Phụng Hiệp đồng ý một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Tuyết P đối với phần đất ở bị thu hồi, được bồi thường bằng đất ở. Đồng ý với yêu cầu hủy Quyết định số 1264/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần đầu tư Hồng Phát là
bà Đinh Thị Bích N1 trình bày:
Trong suốt quá trình triển khai xây dựng dự án, công ty Hồng Phát luôn
thực hiện đúng các quyết định của pháp luật, quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Công ty đã giải thích vận động nhiều lần nhưng các hộ dân không thống nhất nhận tiền bồi thường, không giao đất xây dựng dự án, không chấp hành Quyết định thu hồi đất.
Công ty Hồng Phát đã tiến hành thỏa thuận với các hộ dân nhưng không
đi đến thống nhất, các hộ dân chưa đủ điều kiện để bồi thường bằng đất ở hay được hỗ trợ tái định cư. Công ty Hồng Phát thống nhất nội dung các quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, quyết định giải quyết khiếu nại đối với trường hợp bà Lý Thị Tuyết P. Công ty thống nhất với các chính sách của UBND tỉnh và UBND huyện Phụng Hiệp đã thực hiện. Tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Tuyết P.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu
Giang là ông Lê Quốc V2 trình bày:
UBND tỉnh Hậu Giang có chủ trương xây dựng dự án “Khu dân cư và
Trung tâm thương mại Hồng Phát” nhằm mục đích phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Theo như mục đích xây dựng thì một phần làm trung tâm thương mại, một phần làm khu dân cư.
Chủ trương ban đầu vào năm 2010 thì nhà đầu tư là Công ty Cổ phần đầu
tư Thành Phát với tên dự án là: “Khu dân cư và Trung tâm thương mại Thành Phát – CTC”. Năm 2014 thì UBND tỉnh Hậu Giang điều chỉnh tên dự án thành “Khu dân cư và Trung tâm thương mại Hồng Phát”. Năm 2014 thì UBND tỉnh giao cho Hồng Phát là 5,4ha.
Về chuyển tiếp dự án thì căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 99 Nghị định
43/2014/NĐ-CP của Chính phủ để xử lý các trường hợp đang thực hiện thủ tục thu hồi đất trước ngày 01/7/2014. Về kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Phụng Hiệp đã được UBND tỉnh Hậu Giang phê duyệt tại Quyết định số 1292/QĐ-UBND ngày 30/8/2016. Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Văn bản số 1604 ngày 03/10/2016 thống nhất chủ trương cho tiếp tục thực hiện dự án Khu dân cư và Trung tâm thương mại Hồng Phát và áp dụng hình thức Nhà nước thu hồi đất, lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định.
Về giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường thì UBND đã thực hiện đúng
trình tự, thủ tục được quy định tại khoản 3 Điều 114 của Luật đất đai năm 2013, Mục 3 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP, Điều 33 Thông tư 36/2014/TT-BTNMT. Trên cơ sở thông báo kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định giá đất, Sở Tài nguyên và Môi trường trình UBND tỉnh Hậu Giang và được phê duyệt bổ sung hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án.
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang
trình bày:
Thống nhất với trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Ngày 20/11/2019 Chủ tịch UBND huyện Phụng Hiệp ban hành Quyết
định số 6970 thu hồi lại Quyết định số 1264 ngày 04/3/2019 về việc giải quyết khiếu nại của bà Lý Thị Tuyết P.
Từ nội dung vụ án trên Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2019/HC-ST
ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang tuyên xử:
Căn cứ vào:
Các Điều 30, Điều 32, Điều 116, điểm e khoản 1 Điều 143, Điều 158, điểm
b khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính 2015.
Luật đất đai năm 2003;
Luật đất đai năm 2013;
Khoản 1 Điều 18 Điều 27, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Luật
khiếu nại năm 2011;
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ;
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ;
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
đối với yêu cầu hủy Quyết định số 1264/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Lý Thị Tuyết P.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Tuyết P. Hủy
một phần Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phần liên quan đến hộ bà Lý Thị Tuyết P, đối với phần bồi thường về đất ở và hủy Quyết định số 6659/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, phần liên quan đến bà Lý Thị Tuyết P.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Tuyết P về việc yêu
cầu Tòa án hủy Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp về việc thu hồi đất bà Lý Thị Tuyết P.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và
quyền kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Lý Thị Tuyết P (người khởi kiện) cho rằng
Tòa án cấp sơ thẩm xử hủy 01 phần Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có liên quan đến hộ bà Lý Thị Tuyết P về đất ở và hủy Quyết định số 6659/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 về việc điều chỉnh lại Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 chỉ tăng bồi thường về đất trồng cây lâu năm lên 1.744.199đ mà không hủy Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 là không đúng, nên bà P kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, xử hủy cả Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay ông Nguyễn Văn Quốc S đại diện cho bà Lý Thị Tuyết P vẫn giữ nguyên theo yêu cầu kháng cáo nêu trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P thì đề nghị xử chấp
nhận theo kháng cáo của bà P nêu trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện thì đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm xử.
Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đương sự và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn kháng cáo của bà Lý Thị Tuyết P làm trong hạn luật định, nên
kháng cáo hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét về nội dung vụ án thì thấy:
Việc án sơ thẩm xử hủy 01 phần Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày
27/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có liên quan đến hộ bà Lý Thị Tuyết P đối với phần bồi thường về đất ở cũng như hủy Quyết định số 6659/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang về việc điều chỉnh lại Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp để Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp giải quyết bồi thường lại, về phần này không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với kháng cáo của bà Lý Thị Tuyết P kháng cáo yêu cầu hủy luôn
Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thì Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 13/02/2007 Chính phủ ban
hành Nghị quyết số 11/2007/NQ-CP về việc quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2006-2010) tỉnh Hậu Giang. Trong báo cáo thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 tại tỉnh Hậu Giang. Tại biểu 4 hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và nhu cầu sử dụng đất thương mại dịch vụ tại huyện Phụng Hiệp có phần đất để xây dựng dự án Khu dân cư và thương mại thị trấn Kinh Cùng, huyện Phụng Hiệp. Ngày 19/01/2010, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành văn bản số 140/UBND-NCTH thống nhất đầu tư xây dựng Khu dân cư và thương mại thị trấn Kinh Cùng, huyện Phụng Hiệp cùng với quy mô khoảng 12 ha theo quy hoạch. Ngày 12/11/2010, Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp có văn bản số 879/UBND về việc thống nhất chủ trương cho Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát đầu tư dự án Khu dân cư và thương mại Thành Phát-CTC với diện tích khoảng 12 ha tại Kinh Cùng. Ngày 16/12/2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 2516/QĐ-UBND về việc quy hoạch và thông báo thu hồi đất để đầu tư thực hiện dự án nêu trên; Quyết định số 1292/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 phê duyệt kế hoạch sử dụng đất của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang, Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 17/01/2017 về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang. Sau đó thì UBND huyện Phụng Hiệp ban hành Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 thu hồi đất của bà Lý Thị Tuyết P và 76 hộ dân khác, sau đó thì ban hành Quyết định số 5475/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 về việc áp giá bồi thường, hỗ trợ tái định cư và Quyết định số 6659/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 sửa đổi bổ sung phần bồi thường theo Quyết định số 5475/QĐ-UBND mà đã được Tòa án cấp sơ thẩm xử hủy phần giải quyết bồi thường này để UBND huyện Phụng Hiệp giải quyết lại như trên.
Khi có các quyết định như trên UBND huyện Phụng Hiệp thực hiện theo
dự án, cấp phép cho Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát xây dựng công trình nêu trên, sau khi Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát chuyển nhượng dự án cho Công ty Cổ phần Đầu tư – Xây dựng Hồng Phát thì ngày 13/6/2014 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành văn bản số 849/UBND-KTTH – Điều chỉnh dự án Khu dân cư và thương mại Thành Phát-CTC huyện Phụng Hiệp thành Khu dân cư và Trung tâm thương mại Hồng Phát với quy mô khoảng 5,4 ha, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 1292/QĐ-UBND ngày 30/8/2016; Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 17/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang, nên UBND huyện Phụng Hiệp ban hành Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 về việc thu hồi đất của 77 hộ trong đó có hộ của bà Lý Thị Tuyết P như đã nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật. Việc bà P kháng cáo cũng như ông S đại diện cho bà P cho rằng UBND thu hồi đất của bà P nằm ngoài dự án trên là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đối với kháng cáo cũng như ông S cho rằng việc chuyển đổi dự án giữa
Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát với Công ty Cổ phần Đầu tư – Xây dựng Hồng Phát chưa rõ ràng, yêu cầu đưa Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát vào tham gia tố tụng. Vấn đề này Hội đồng xét xử xét thấy: Do Công ty cổ phần đầu tư Thành Phát chuyển nhượng dự án cho Công ty Cổ phần Đầu tư – Xây dựng Hồng Phát theo văn bản số 849/UBND-KTTH ngày 13/6/2014 - Điều chỉnh lại dự án của UBND tỉnh Hậu Giang, nên kháng cáo của bà P do ông S đại diện đặt ra vấn đề này cũng không được chấp nhận.
Quan điểm đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P
không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Quan điểm đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người
bị kiện cũng như quan điểm đề nghị của Vị đại diện Việm kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên không được ghi nhận.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp
nhận nên bà Lý Thị Tuyết P phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lý Thị Tuyết P đòi hủy Quyết định số
5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2019/HC-ST ngày 28 tháng
11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Căn cứ các Điều 30; Điều 32; Điều 116; điểm e khoản 1 Điều 143; Điều
158; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 206; Điều 348 của Luật tố tụng hành chính 2015.
Luật đất đai năm 2003; Luật đất đai năm 2013;
Khoản 1 Điều 18; Điều 27; Điều 29; Điều 30; Điều 31; Điều 32 của Luật
khiếu nại năm 2011;
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ;
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ;
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện cũng như đơn kháng cáo của bà Lý
Thị Tuyết P đòi hủy Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của UBND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Lý Thị Tuyết P phải chịu
300.000đ án phí hành chính phúc thẩm. Ngày 09/12/2019, bà Lý Thị Tuyết P nộp số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003365 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang; số tiền này được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2020./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Cục THADS tỉnh Hậu Giang; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng (ĐTT-16b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |