- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ Minh H và đồng phạm - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ Minh H và Trần Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 532/2026/HS-PT Ngày: 10 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà
Các Thẩm phán:
1. Bà Lê Thị Thương Huyền
2. Ông Trần Minh Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 307/2026/TLPT-HS
ngày 28/4/2026 đối với Nguyễn Vũ Minh H và Trần Minh T do có kháng cáo của
các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2026/HS-ST ngày 23/3/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Vũ Minh H; giới tính: nam; sinh ngày 13/9/1987, tại Thành phố
Hồ Chí Minh; cư trú: 451/31 XVNT, phường BT, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc
tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ văn hóa: 9/12; nghề
nghiệp: buôn bán; con ông NTS (chết) và bà VTN; hoàn cảnh gia đình: có vợ và
03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh ngày 12/01/2026; tiền án, tiền sự:
không có;
Nhân thân:
- Ngày 06/12/2010, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”.
- Năm 2016 bị Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt
hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác.
Bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2025, đến ngày 12/11/2025 được thay thế bằng
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Trần Minh T; giới tính: nam; sinh ngày 10/10/1975, tại tỉnh Cà Mau;
thường trú: Khóm M, xã CN ( trước đây là thị trấn CN, huyện CN), tỉnh Cà Mau; chỗ ở: 451/38 XVNT, phường BT (trước đây là phường HS, quận BT), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: quản lý nhà trọ; con ông TVH và bà HTH; hoàn cảnh gia đình: có vợ (đã ly hôn) và 02 con; tiền sự: không có;
Tiền án: Ngày 16/11/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau
xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chưa nộp 35.000 đồng tiền thu lợi bất chính và 50.000 án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 17/4/2025, Nguyễn Vũ Minh H, Trần Minh T, Lê Văn
L và Dô ( không rõ lai lịch ) ngồi nhậu trước nhà số 451/38/1A XVNT, phường BT (trước đây là Phường 26, Quận Bình Thạnh), Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, T nói H lấy loa ra hát karaoke thì H trả lời để loa bên nhà vợ nên không thể lấy được. T nói với H “Mày là người đàn ông phải có thể hiện một chút”, rồi dùng tay bóp vào bộ phận sinh dục của H làm H bực tức. H nói “Không được giỡn vậy nữa, giỡn vậy kỳ lắm”. Lúc này, T thách thức H “Có bản lĩnh đánh nhau không”. H dùng tay phải cầm 01 cái bo bằng gỗ bọc da dùng để đánh trống dọa đánh vào đầu T. Tuy nhiên, T tiếp tục khiêu khích và nói “Thích thì mày cứ đánh tao, thể hiện là người đàn ông”. Nghe vậy, H dùng tay phải cầm ghế nhựa màu đỏ đánh 02 cái vào đầu và người của T. L và Dô can ngăn nhưng H tiếp tục chạy đến dùng chân phải đạp trúng người T làm T té ngã xuống đất. Sau đó, T cầm ghế nhựa màu đỏ định đánh lại H thì bị L can ngăn, còn Dô can ngăn H. T tiếp tục nói “Mày ăn nhậu vô, anh em sao mày đánh tao, mày muốn gì”. Khi đó, H nhặt 01 cục bê tông trước cửa nhà số 451/38/1A Xô Viết Nghệ Tĩnh chạy đến đập 01 cái vào đầu T làm T bị chảy máu ở trán. L và Dô tiếp tục can ngăn nên H bỏ lại cục bê tông về chỗ cũ, đứng cách T khoảng 5 đến 6 mét và cả hai tiếp tục chửi nhau. T nhặt cục bê tông mà H vừa bỏ lại chạy đến định đánh H nhưng H bỏ chạy ra ngoài đường, cách chỗ T khoảng 10 mét. Sau đó, T đi vào trong nhà rồi chạy ra ngoài, tay phải cầm 01 cây gỗ dài khoảng 50cm đuổi theo H hơn 10 mét nhằm mục đích đánh H, tuy nhiên, H bỏ chạy ra đường Xô Viết Nghệ Tĩnh nên T không đuổi đánh được. Do được L can ngăn nên T quay về nhà.
Trần Minh T từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án
hình sự. T chỉ yêu cầu H thanh toán chi phí khám, chữa bệnh số tiền 2.000.000 đồng; gia đình H đã bồi thường xong số tiền này.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2026/HS-ST ngày 23/3/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Minh H 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, trừ thời gian bị bắt tạm
giam từ ngày 11/6/2025 đến ngày 12/11/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm h khoản 1 Điều 318; điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02 năm 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/3/2026, bị cáo Nguyễn Vũ Minh H kháng
cáo xin hưởng án treo. Ngày 30/3/2026, bị cáo Trần Minh T kháng cáo xin hưởng
án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan
điểm kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công
cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ
mới do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của
các bị cáo.
Các bị cáo tự tranh luận, bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, hành vi
của các bị cáo nhất thời bộc phát, các bị cáo đều là lao động chính, hoàn cảnh gia
đình có khó khăn nhất định, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện theo
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa
phúc thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
Về nội dung vụ án: Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên
tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản án sơ
thẩm đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời
khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm cùng với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 17/04/2025 do phát sinh mâu thuẫn trong lời
nói khi ngồi nhậu trước nhà 451/38/1A XVNT, phường BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Vũ Minh H đã dùng ghế nhựa, cục gạch bê tông và dùng chân đạp, đánh Trần Minh T. T cũng lấy 01 cây gỗ dài 50cm đuổi đánh H nhưng chưa đánh được. Sự việc được mọi người nhậu chung can ngăn nên cả hai dừng lại và ra về.
Theo công văn số 237/UBND ngày 18/4/2025 của Ủy ban nhân dân phường
26, quận Bình Thạnh thì sự việc đánh nhau xảy ra ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công
cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội.
Sau khi xét xử sơ thẩm, cá bị cáo kháng cáo trong hạn luật định là hợp lệ nên
được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thay đổi kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét
xử xét thấy: Sự việc mâu thuẫn, đánh nhau xảy ra trong thời gian ngắn, mang tính bộc phát nhất thời; sau khi được mọi người can ngăn thì sự việc đã dừng lại nên mức độ ảnh hưởng có hạn chế, do đó cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt có phần nghiêm khắc.
Xét bị cáo H là lao động chính, hiện đang nuôi 03 con nhỏ, trong đó có con
mới 06 tháng tuổi, sự việc mâu thuẫn do bị cáo T là người khởi xướng nên xét giảm cho bị cáo một mức hình phạt cũng đủ tác dụng, cải tạo giáo dục đối với bị cáo. Đối với bị cáo T hiện đang trực tiếp chăm sóc cha, mẹ già (đều 75 tuổi), trong đó cha bị cáo là thương binh, bị cáo có bà nội là bà Mẹ Việt Nam anh hùng nên áp dụng chính sách khoan hồng, tạo điều kiện để bị cáo chăm sóc người có công với cách mạng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng
hình sự;
+ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ Minh H và Trần Minh T.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 105/2026/HS-ST ngày 23/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Minh H 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật
tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian
tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2025 đến ngày 12/11/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - P.PV 06 – CA TP.HCM; (1) - Bị cáo; (3) - Cơ quan THAHS; (1) - TAND Khu vực 5; (2) - UBND nơi bị cáo cư trú; (3) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (19) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hà. |