vanban.org

Bản án 530/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà GTN là người đại diện theo pháp luật của bị hại.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [3] Án phí: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà GTN không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VĐN Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bà GTN là người đại diện theo pháp luật của bị hại.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 530/2023/HS-PT
Ngày 14 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thúy Bình và ông Nguyễn Tất Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh HD, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 499/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo VĐN do có kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2023/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD.

- Bị cáo bị kháng cáo: VĐN, sinh ngày 28/9/2001; nơi cư trú: Thôn ĐG, xã TG, huyện TM, tỉnh HD; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông VĐC và bà VTL; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/7/2022 đến ngày 16/7/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh HD đến nay. (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông VĐC, sinh năm 1976 và bà VTL, sinh năm 1980 (là bố mẹ đẻ của bỊ cáo VĐN); cùng địa chỉ: Thôn ĐG, xã TG, huyện TM, tỉnh HD. (đều có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông TTK - Luật sư Văn phòng Luật sư AD thuộc Đoàn Luật sư tỉnh HD; địa chỉ: Số 15A HQ, thành phố HD, tỉnh HD. (có mặt)

- Bị hại: Ông NVD, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn TS, xã TG, huyện TM, tỉnh HD (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà GTN, sinh năm 1974 (là vợ bị hại); địa chỉ: Thôn TS, xã TG, huyện TM, tỉnh HD. (có mặt)

Trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 20 ngày 09/7/2022, anh VDD gọi điện rủ ông NVD đến nhà anh VDD hát Karaoke. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi ông NVD và anh VDD đang hát Karaoke thì VĐN là hàng xóm đi sang, thấy có 01 con dao dài khoảng 23cm chuôi gỗ ở cửa nhà anh VDD, VĐN cầm con dao đi đến cửa phòng anh VDD và ông NVD đang hát, khua đi, khua lại và nói với anh VDD “Chú mở nhỏ nhạc thôi”, thì anh VDD nói “Nhà tao tao hát, bận nào tao hát mày cũng sang là thế nào”, VĐN nói tiếp “Chú mở nhỏ thôi” thì ông NVD nói “Hát thế nó mới đủ cỡ”, VĐN chửi ông NVD và nói “ông ở đâu đến đây còn lắm chuyện”. Lúc này, ông VĐK và bà NTG (là bố mẹ đẻ anh VDD) khuyên VĐN trả con dao và bảo VĐN đi về, VĐN vứt dao xuống sân rồi đi về nhà. Khoảng 30 phút sau, do bực tức nên anh VDD và ông NVD đi sang sân nhà VĐN đứng chửi VĐN; VĐN lấy 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 22cm (loại dao gập) mũi nhọn ở đầu giường đút vào túi quần phía trước bên phải, sau đó VĐN đi xuống bếp lấy 01 con dao bằng kim loại màu đen (dạng dao phay) dài 36,5cm, tay phải cầm dao đi ra ngoài sân, thì ông NVD và anh VDD chạy ra phía ngoài cổng, VĐN cầm dao đuổi theo ra đến đường ngõ trước cổng nhà VĐN chém về phía ông NVD, ông NVD túm được tay phải của VĐN đang cầm dao làm rơi dao xuống đường, ông NVD nhặt dao ném vào trong vườn nhà chị NTT (ở cạnh đó) và đấm 03 nhát vào sau gáy, đầu của VĐN; VĐN lấy con dao gấp trong túi quần ra, bấm lưỡi dao bật ra, tay phải cầm dao đứng đối diện với ông NVD (cách khoảng 60cm) đâm 01 nhát theo hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên vào cánh tay trái của ông NVD, ông NVD quay người định bỏ chạy thì VĐN đâm tiếp 01 nhát nữa theo hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên vào lưng bên trái của ông NVD, ông NVD bỏ chạy được khoảng 30m thì gục ngã xuống đường. Sau đó, ông NVD được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện TM cấp cứu, nhưng đã chết trên đường đến Trung tâm y tế.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra vụ án tại khu vực đường ngõ trước cổng vào nhà VĐN ở thôn ĐG, xã TG, huyện TM, tỉnh HD. Phát hiện trên mặt đường ngõ cách mép cổng bên trái và bên phải nhà bà NTC 1,64m và 2,3m và cách cổng đi vào nhà VĐN 11,1m có dấu vết màu nâu nghi máu rải rác dạng nhỏ giọt. Trên mặt đường ngõ đi vào nhà bà VTH có rải rác dấu vết màu nâu nghi máu dạng nhỏ giọt tập trung ở phía cuối ngõ, cách mép cổng bên phải và bên trái nhà bà VTH 1,03m và 0,76m. Trên mặt đường thôn trước cổng nhà bà NTT1 và cách mép cổng trái 40cm có dấu vết màu nâu nghi máu dạng máu đông và máu quệt; trước cổng cánh mép tường bao nhà NTT1 0,7m là đôi giầy da màu đen, trên đôi giầy dính bám dấu vết màu nâu nghi máu. Mở rộng hiện trường: Tiếp giáp nhà VĐN là vườn nhà bà NTT, phát hiện giáp gốc chuối, cách tường bao nhà bà T 5,35m và 2,78m có 01 con dao phay bằng kim loại dài 36,5cm, dao một lưỡi sắc, chuôi dao dài 11cm, lưỡi dao dài 25,5cm, bản dao rộng nhất 6,4cm. Tiến hành thu giữ: Mẫu các dấu vết màu nâu nghi máu, 01 đôi giầy da màu đen, 01 mảnh vải màn, 01 con dao phay nói trên.

Tại Biên bản khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định pháp y thể hiện: Ông NVD có 01 vết thương rách da mặt sau trong 1/3 dưới cánh tay trái, bờ mép vết thương sắc gọn, hướng từ dưới lên, từ trái sang phải. 01 vết thương rách da vùng lưng trái, bờ mép sắc gọn, có hướng từ dưới lên trên, hơi chếch từ phải qua trái, thông khoang ngực trái; khoang ngực trái chứa đầy máu không đông lẫn máu cục (khoảng 3000ml). Phổi 02 bên màu nhợt nhạt, rải rác các đám xung huyết, phổi trái trạng thái xẹp. Mặt sau thùy dưới phổi trái có vết rách nhu mô, tạo hầm lên phía trên sâu, không xuyên ra ngoài. Lòng khí phế quản và phế quản gốc 02 bên chứa nhiều dịch bọt lẫn máu. Thành sau ngực trái tương ứng khe liên sườn VII, VIII, tổ chức dưới da và cơ tụ máu, ngấm máu, có vết thương thông ra phía ngoài. Nguyên nhân ông NVD chết: Mất máu cấp (Vết thương vùng lưng trái thông khoang ngực, rách nhu mô phổi; chảy máu khoang ngực). Tổn thương này do vật sắc nhọn gây nên nên là phù hợp. Con dao do ông VĐC là bố đẻ của VĐN giao nộp có thể gây ra các vết thương trên cơ thể ông NVD. Với tổn thương trên cơ thể ông NVD, nếu được cấp cứu kịp thời ông NVD có thể vẫn tử vong.

Kết luận giám định số 4575 ngày 18/8/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an thể hiện: Trên con dao gửi giám định có bám dính máu của ông NVD.

Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 383 ngày 07/12/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương, Bộ Y tế đối với VĐN xác định: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 09/7/2022 và tại thời điểm giám định VĐN mắc bệnh động kinh toàn thể cơn lớn có biểu đổi nhân cách mức độ vừa. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên VĐN đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo VĐN phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo VĐN 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/4/2023, bà GTN là người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà GTN giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bà GTN, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh HD.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh HD. Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với ý kiến của Luật sư bào chữa và không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng của bà GTN là người đại diện hợp pháp của bị hại gửi trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù đối với bị cáo của bà GTN là người đại diện hợp pháp của bị hại thấy:

Lời khai của bị cáo VĐN tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo phiên tòa sơ thẩm, lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của những người làm chứng. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, kết luận mổ tử thi, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 22 giờ ngày 09/7/2022, tại khu vực đường ngõ trước cổng nhà VĐN ở thôn ĐG, xã TG, huyện TM, tỉnh HD. Bị cáo VĐN đã dùng 01 con dao (loại dao gấp) dài 22cm bằng kim loại, mũi nhọn đâm 01 nhát vào cánh tay bên trái và 01 nhát vào lưng bên trái của ông NVD làm ông NVD bị chết do Mất máu cấp.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của ông NVD. Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong việc nhắc nhở ông NVD và anh VDD hát Karaoke gây tiếng ồn ở khu vực cùng sinh sống. Bị cáo đã dùng 01 con dao gấp sắc nhọn bằng kim loại, là hung khí nguy hiểm để đâm ông NVD 01 nhát vào cánh tay bên trái, liền tiếp ngay sau đó đâm một nhát vào lưng bên trái. Hậu quả làm ông NVD bị chết trên đường đi cấp cứu do bị mất máu cấp. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện tính quyết liệt và mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại; hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật và tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.

Tuy nhiên, xét về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 383 ngày 07/12/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương, Bộ Y tế đối với VĐN: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 09/7/2022 và tại thời điểm giám định, VĐN mắc bệnh động kinh toàn thể cơn lớn có biểu đổi nhân cách mức độ vừa. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên, VĐN đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Song, mặc dù bị cáo có hạn chế khả năng điều khiển hành vi nhưng là người có đầy đủ khả năng nhận thức, năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên không thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi do bị cáo VĐN thực hiện đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bên cạnh đó, cũng cần xem xét đến nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo dùng dao đâm bị hại là do bị hại có phần xử sự chưa đúng; sự việc xảy ra mâu thuẫn ban đầu đã kết thúc, bị cáo đã về nhà nhưng bị hại và anh VDD lại tiếp tục sang nhà bị cáo để chửi bới, bị hại đã dùng tay đấm 03 nhát vào sau gáy, đầu của bị cáo dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên bị hại cũng có lỗi một phần. Bị cáo khi phạm tội bị bệnh động kinh làm hạn chế khả năng điều khiển hành vi; bị cáo là người bị khuyết tật nặng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để tuyên phạt bị cáo mức án 14 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Việc bà GTN là người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt tù đối với bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, cần giữ nguyên mức án 14 năm tù đối với bị cáo tại bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh HD theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại là bà GTN không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà GTN là người đại diện theo pháp luật của bị hại. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo VĐN 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2022.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà GTN không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ