- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 228 Bộ luất Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 82, 83, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| Toµ ¸n nh©n d©n tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè:53/2022/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 8 năm 2022 (V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình) Nh©n danh n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam Toµ ¸n nh©n d©n tØnh phó thä Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã: ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Điêu Thị Bích Lượt. C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1/ Bà Phạm Thị Thanh T1ân 2/ Bà Bùi Thị Hảo Thanh Hương - Kiểm sát viên. công khai vụ án thụ lý số: 77/2022/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2022 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXX- ST ngày 20 tháng 7 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L- sinh năm 1996; ĐKHKTT: Khu 14, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ Bị đơn: Anh Bùi Đình T1 - sinh năm 1994; ĐKHKTT: Khu Xi Hen, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ Hiện nay anh T1 đang lao động tại Đài Loan không có địa chỉ cụ thể | Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn là chị Phạm Thị L trình bày:
Chị và anh Bùi Đình T1 kết hôn ngày 26/10/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau cuộc sống chung của vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T1 đi lao động tại Đài Loan có người khác không liên lạc với chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị ly hôn anh T1.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Minh A, sinh ngày 01/4/2018. Hiện nay cháu A đang sống cùng với chị, chị đề nghị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn là anh Bùi Đình T1: Hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể, Tòa án nhân dân huyện L tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T1thông qua mẹ đẻ anh T1là bà Mai Thị Hồng T, bà T2 cam kết thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T1.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L xử:
Cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Bùi Đình T1
Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Minh A, sinh ngày 01/4/2018 cho chị Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng Chị L. Anh T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị L không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Phạm Thị L đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị ly hôn anh Bùi Đình T1 trú tại: Khu Xi Hen, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Anh T1 hiện đang lao động tại Đài Loan, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Về trình tự thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thủ tục tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho anh T1 nhưng không tống đạt được vì anh T1vắng mặt tại địa phương. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T1 thông qua mẹ đẻ anh T1. Tuy nhiên, anh T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T1, Chị L.
Về nội dung:
Xem xét quan hệ hôn nhân Chị L và anh T1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị L, anh T1 tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Như vậy, là hôn nhân hợp pháp. Nay Chị L cho rằng tình cảm vợ chồng không còn và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh T1. Về phía anh T1 vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp pháp. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã có buổi làm việc vưới bà T2 mẹ đẻ anh T1, bà T2 xác định anh T1 hiện đang lao động tại Đài Loan không có địa chỉ cụ thể, thường xuyên liên lạc với bà qua điện thoại, việc Chị L xin ly hôn anh T1bà cho rằng đó là việc riêng của hai người nên bà không can thiệp. Bà cam kết nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T1. Anh T1 không có mặt tại các buổi làm việc với Tòa án đồng nghĩa với việc anh T1 từ chối quyền trình bày tại Tòa án. Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống của Chị L, anh T1 có mâu thuẫn, hiện nay không ai còn quan tâm đến ai nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên quyết định cho Chị L ly hôn anh T1.
Về con chung: Chị L xác định vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Bùi Minh A, sinh ngày 01/4/2018. Hiện nay cháu A đang sống cùng với Chị L. Anh T1 đang lao động tại Đài Loan. Khi ly hôn Chị L xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A cho đến khi cháu thành niên, anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng Chị L, xét thấy đề nghị của Chị L phù hợp với pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu A cho Chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị L không yêu cầu anh T1cấp dưỡng tiền nuôi con xét thấy đó là sự tự nguyện của Chị L nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 228 Bộ luất Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 82, 83, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Bùi Đình T1
2/ Về con chung: Giao cháu Bùi Minh A, sinh ngày 01/4/2018 cho chị Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Anh T1không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng Chị L. Anh T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Tòa án không xem xét.
4/ Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. (Xác nhận Chị L đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0000206 ngày 06/6/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ - Cục THA tỉnh Phú Thọ - Đương sự - UBND xã Đ, H. C - Lưu HS vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Điêu Thị Bích Lượt |