vanban.org

Bản án 53

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b : Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hồ Hoàng A và Phạm Lê Trí V cùng phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

Áp dụng: điểm g kho n 2 điều 173; điểm h, s kho n 1 điều 51; điểm g kho n 1 điều 52; Điều 17, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 30 (Ba mươi ) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Lê Trí V cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b : Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hồ Hoàng A và Phạm Lê Trí V cùng phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

ỘNG

XÃ ỘI Ủ NG Ĩ VI N M

N

N

- d - nh h

N

N

N B n án s : 53 /2022/HS-ST Ngày: 20/ 04 /2022

NHÂN DA

NƯỚ ỘNG

XÃ ỘI Ủ NG Ĩ VI N M

N N N N

N

NH, N

N

N

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Qu c Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Phương Dung

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh ThA Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 34/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 03 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm s 39/2022/QĐXXST-HS ngày 01/ 04 /2022 đ i với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc S, tên gọi khác: Nhí Em; Sinh ngày 10/6/1994

Nơi sinh:Tỉnh Bình Thuận

Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu ph N, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976.

Trú tại: Khu ph L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Tiền án: Có 02 tiền án. Tại B n án s 58/2017/HSST ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài s n, theo quy định kho n 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/5/2018. Tại B n án s 15/2020/HS-ST ngày 11/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài s n, theo quy định tại kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, chấp hành án phạt tù xong ng y 23/4/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại b n án s 41/2012/HSST ngày 21/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 04 năm tù về tội: Cướp giật tài s n, theo quy định tại kho n 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 (đã được xóa án tích).

Tạm giam: Ngày 23/12/2021

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Lê Trí V, tên gọi khác: Ba Mùa ; Sinh ngày 11/10/1998

Nơi sinh:Tỉnh Bình Thuận

Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu ph B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1979 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1970.

Trú tại: Khu ph B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Tiền án: Có 02 tiền án. Tại B n án s 17/2017/HSST ngày 17/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, theo quy định kho n 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2019. Tại B n án s 26/2020/HS-ST ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài s n, theo quy định tại kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, chấp hành án phạt tù xong ng y 23/4/2021.

Tiền sự: Ngày 17/12/2019, bị Công an thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài s n. Đến nay, bị cáo Phạm Lê Trí V chưa nộp phạt.

Nhân thân: Tại b n án s 01/2016/HSST ngày 12/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài s n, theo quy định tại kho n 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngày 13/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 04 tháng tù về tội: Tiêu thụ tài s n do người khác phạm tội mà có. Chấp hành xong hình phạt tù của 02 B n án vào 31/8/2016 (không xem là có án tích).

Tạm giam: Ngày 23/12/2021

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

3. Họ và tên: Hồ Hoàng A. Tên gọi khác: Bé Hai. Sinh ngày: 01/12/1994

Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận.

ĐKHKTT và chỗ ở: Khu ph T,thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Đ1, sinh năm 1971 và bà Biền Thị T1, sinh năm 1975.

Trú tại: Khu ph T, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 09/9/2021 bị Công an xã Hồng Thái, huyện Bắc Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài s n.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại ở cùng với gia đình tại khu ph Lương Tây, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Bị hại:

1.Nguyễn Thị Kim Q, sinh 1986 ( Có mặt)

Địa chỉ:Thôn H, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận

2.Hồ Thị Mỹ Vân, sinh 1967 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: khu ph T, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

1.Chị Lê Thị Minh Trang, sinh 1983( Vắng mặt)

Địa chỉ: khu ph T, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

2.A Lê Qu c T, sinh 1994( Vắng mặt)

Địa chỉ: khu ph Tr, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận

3.Chị Huỳnh Thị M, sinh 1967( Vắng mặt)

Địa chỉ: khu ph T, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận

NỘI NG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Các bị can Nguyễn Ngọc S cùng với Phạm Lê Trí V và Hồ Hoàng A thực hiện các lần trộm cắp tài s n, cụ thể:

Lần 1: Sáng ngày 30/9/2021, Hồ Hoàng A chạy chiếc xe mô tô hiệu Sirius biển s 86B2-077.11 của chị Biền Thị Tâm (là mẹ của Hồ Hoàng A; sinh năm: 1975; cư trú: khu ph Lương Tây, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) để đi u ng thu c điều trị cai nghiện tại trung tâm Methanol ở thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình. Sau đó, A điều khiển xe chạy về nhà. Đến kho ng 07 giờ 00 phút cùng ngày 30/9/2021, A chạy xe mô tô biển s 86B2-077.11 tới khu vực chợ cũ Lương S thuộc khu ph Lương Tây, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình thì gặp Nguyễn Ngọc S đang đi bộ trên đường nên A rủ S đi xin tiền của người dân ở chợ mới Lương S thuộc khu ph Lương Nam, thị trấn Lương S để mua ma túy sử dụng. Khi nghe A nói như vậy thì S đồng ý và lên xe để A chở tới chợ mới Lương S để xin tiền. Khi A chạy xe tới phía sau chợ mới Lương S thì phát hiện có 01 lồng gà bằng sắt bên trong có 12 con gà loại gà ta th vườn (bao gồm: 07 con gà tr ng và 05 con gà mái) của chị Nguyễn Thị Kim Q (sinh năm: 1986; cư trú: thôn Tân Hòa, xã Sông Bình, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) để ở gần xe nước mía phía sau chợ. A và S quan sát thấy không có ai trông coi giỏ gà nên đã n y sinh ý định trộm cắp giỏ gà để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Lúc này, S ngồi sau xe nói với A là “lấy giỏ gà đi bán”, khi nghe S nói như vậy thì A gật đầu đồng ý. S bước xu ng xe đi tới chỗ giỏ gà rồi dùng tay bê giỏ gà lên để ở yên xe và ngồi lên phía sau yên xe để giữ giỏ gà. Sau đó, A điều khiển xe chở S và giỏ gà tới khu vực gần 01 cây cầu ở trên đường qu c lộ 28B (không rõ vị trí cụ thể) để bán giỏ gà nhưng không ai thu mua nên A điều khiển xe chạy về lại khu vực chợ mới Lương S. Khi tới đây thì A và S để giỏ gà xu ng đất gần quầy bán heo quay ở trước chợ Lương S. Lúc này, A và S thấy chị Lê Thị Minh Trang (sinh năm: 1983; cư trú: khu ph Lương Nam, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) là người thu mua và bán gà tại chợ Lương S đang đi bộ vào trong Chợ nên A đã chạy xe chở S chạy tới chỗ chị Trang. Khi gặp chị Trang thì c A và S đều hỏi “chị Ba có mua gà không?”, khi nghe A và S hỏi như vậy thì chị Trang hỏi lại là “gà ở đâu?”. S tr lời “gà ở trên rẫy của ba em”. Khi nghe S nói như vậy chị Trang hỏi lại “gà có đẹp không?” thì S tr lời “gà đẹp”. Sau đó, A và S dẫn chị Trang tới coi giỏ gà mà A và S trộm được. Chị Trang đồng ý mua với giá là 90.000 đồng/01kg và kêu A và S chở gà tới nhà của em trai mình là Lê Qu c T (sinh năm: 1994; cư trú: khu ph Lương Trung, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình). Khi A điều khiển xe chở S và giỏ gà tới nhà của T thì gặp T ở nhà nên A nói với T là “tôi bán lồng gà”, khi nghe A nói như vậy thì T hỏi “gà ở đâu?”, A tr lời lại là “gà ở nhà đem đi bán”. Sau đó A và S ôm giỏ gà trên đem lên cân thì được hơn 20kg, sau khi trừ đi 02 kg lồng sắt nên còn hơn 18kg gà thịt. Sau khi cân gà xong thì T lấy điện thoại gọi báo cho chị Trang biết là có người tới bán gà. Kho ng 10 phút sau thì chị Trang chạy xe về nhà của T. Sau khi cân gà lại thì T nói mua với giá là 90.000 đồng/01kg như vậy là mắc nên chỉ đồng ý mua với giá là 65.000 đồng/01kg thì A và S đồng ý bán được 1.180.000 đồng. A và S xin chị Trang thêm 20.000 đồng để cho đủ 1.200.000 đồng thì chị Trang đồng ý. Tuy nhiên, chị Trang nói với A và S là đợi bỏ hết s gà trên cho các quán có tiền thì mới tr cho A và S. Sau đó chị Trang bỏ giỏ gà trên lên phía sau xe rồi chở đi bán. Khi chị Trang chạy xe đi thì A và S ra gặp T để nói chị Trang chưa đưa tiền thì T nói với A và S là do A và S trước đó mượn của T tổng s tiền là 650.000 đồng nên giờ T sẽ trừ đi 600.000 đồng cho tròn còn lại 600.000 đồng thì đợi đến chiều T gom được tiền sẽ tr cho A và S. Nghe T nói như vậy thì A và S đồng ý sau đó chạy xe đi. Chị Q phát hiện s gà của mình để ở chợ bị mất thì đến Công an thị trấn Lương S trình báo. Đến kho ng 11 giờ 00 phút cùng ngày 30/9/2021, Hồ Hoàng A và Nguyễn Ngọc S được Công an thị trấn Lương S mời về trụ sở để làm việc, tại đây S và A đã thừa nhận T bộ hành vi trộm cắp tài s n nêu trên của mình. Sau khi làm việc, Công an cho A và S ra về.

Lần 2: Đến Kho ng 09 giờ 00 phút ngày 01/10/2021, Phạm Lê Trí V lấy chiếc xe đạp hiệu Martin màu trắng của em gái là Phạm Thị Mai Trúc (sinh năm 2005; cư trú: khu ph Lương Bình, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình) đi từ nhà của V tại khu ph Lương Bình, thị trấn Lương S tới khu vực cây xăng ở gần chợ mới Lương S thuộc khu ph Lương Tây, thị trấn Lương S thì gặp Nguyễn Ngọc S đang đi bộ tại đây. S rủ V đi xin tiền tại khu vực chợ mới Lương S để mua ma túy sử dụng thì V đồng ý. Sau đó, S đạp xe chở V tới khu vực chợ mới Lương S để xin tiền nhưng không có ai cho nên S đạp xe chở V về lại khu ph Lương Tây. Khi S đạp xe chở V đi qua nhà của bà Hồ Thị Mỹ Vân, sinh năm: 1967 ở khu ph Lương Tây, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình thì V thấy bà Vân lúc này đang khép cửa nhà và xách 01 chiếc giỏ để đi chợ. V và S lúc này n y sinh ý định đột nhập vào nhà của bà Vân để trộm cắp tài s n bán lấy tiền mua ma túy sử dụng nên V kêu S dừng xe ở phía trước nhà của bà Vân. Sau khi thấy bà Vân đã đạp xe đi thì V quay qua nói với S “A S đứng ở ngoài cA để em đi vào lấy”, khi nghe V nói như vậy thì S đồng ý và đứng ở ngoài c nh giới còn V xu ng xe và đi bộ vào trong nhà của bà Vân. Khi V mở cửa của nhà bà Vân ra thì thấy gần chỗ cửa trước ở gian nhà trước nhà bà Vân có để 03 bao nilon màu trắng đã được cột miệng, gồm 02 bao lớn và 01 bao nhỏ. V biết đây là các bao đậu đen do V thường đi qua nhà bà Vân thấy bà Vân hay đập đậu và phơi ở phía trước nhà. V quan sát trong nhà bà Vân không có ai nên V đã ôm bao đậu nhỏ đi ra ngoài rồi để lên ba ga phía sau xe đạp và nói với S đây là bao đậu đen. Sau đó, V ngồi sau để ôm bao đậu đen để S đạp xe chở V cùng bao đậu đen tới nhà của bà Huỳnh Thị M (thường gọi là Nhỏ; sinh năm: 1967; là người thu mua hàng nông s n ở khu ph Lương Tây, thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình) để bán bao đậu đen vừa trộm được. Khi tới nhà của bà M thì V nói với bà M là “Nhỏ ơi mua đậu không?”, nghe V hỏi như vậy thì bà M tr lời “đậu gì?”, V nói là “đậu đen” thì bà M đồng ý mua. S và V ôm bao đậu trên lên cân được 30 kg. Bà M thu mua với giá là 20.000 đồng/01kg nên đưa cho V 600.000 đồng. V nhận s tiền trên xong thì lên xe để S chở đi về, khi về tới chợ cũ Lương S thì V chia cho S 300.000 đồng còn V lấy 300.000 đồng, s tiền trên V và S đều dùng hết vào việc mua ma túy sử dụng. Bà Vân đi chợ về thì phát hiện bao đậu đen của mình để ở nhà bị mất thì đến Công an thị trấn Lương S trình báo. Sau đó, Phạm Lê Trí V và Nguyễn Ngọc S được Công an thị trấn Lương S mời về trụ sở để làm việc, tại đây S và V đã thừa nhận T bộ hành vi trộm cắp tài s n nêu trên của mình.

* Tại b n Kết luận định giá tài s n s 91/2021/HĐĐG-TTHS ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Hội đồng định giá trong T tụng hình sự huyện Bắc Bình kết luận: Tổng giá trị tài s n là 12 con gà bị trộm cắp vào ngày 30/9/2021 tại thị trấn Lương S, gồm: 07 con gà tr ng có tổng trọng lượng là 12,5kg và 05 con gà mái có tổng trọng lượng là 6,75kg tại thời điểm ngày 30/9/2021 là 2.060.000 đồng.

* Tại b n Kết luận định giá tài s n s 90/2021/HĐĐG-TTHS ngày 22 tháng 10 năm 2021 của Hội đồng định giá trong t tụng hình sự huyện Bắc Bình kết luận: 30 kg đậu đen bị trộm cắp vào ngày 01/10/2021 tại thị trấn Lương S:

+ Nguyên giá: 35.000 đồng/kg;

+ S lượng: 30kg;

+ Thành tiền: 30kg x 35.000 đồng/kg = 1.050.000 đồng.

Giá trị tài s n là 30kg đậu đen bị trộm cắp vào ngày 01/10/2021 tại thị trấn Lương S tại thời điểm vào ngày 01/10/2021 là 1.050.000 đồng.

Đ i với hành vi của Huỳnh Thị M, Lê Qu c T và Lê Thị Minh Trang khi mua tài s n của S, A và V thì không biết tài s n mua là do S, A, V trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý M, T, Trang là phù hợp.

Ngày 30/9/2021, Công an thị trấn Lương S đã lập biên b n tạm giữ 12 con gà là tang vật của vụ trộm nói trên và tạm giữ chiếc xe mô tô 86B2-077.11 mà A sử dụng chở S đi trộm.

Ngày 01/10/2021, Công an thị trấn Lương S đã lập biên b n tạm giữ 01 bao đậu đen có trọng lượng là 30 kg là tang vật của vụ trộm nói trên.

Đ i với xe đạp hiệu Martin màu trắng, Cơ quan điều tra đã xác minh của bà Phạm Thị Lan, sinh năm 1970 (là mẹ ruột của Phạm Lê Trí V). Bà Lan mua xe đạp này cho con là Phạm Lê Trúc Mai để đi học. Bà Lan không biết việc V sử dụng xe đạp để đi trộm cắp tài s n nên Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe đạp là phù hợp.

Về tang, v t hứng ủa vụ án: Sau khi tiến hành định giá xong, Cơ quan Điều tra đã giao tr 12 con gà trên cho chị Q và đã giao tr bao đậu đen cho chị Vân

Đ i với xe mô tô biển s 86B2-077.11, Cơ quan điều tra xác minh đây là xe thuộc sở hữu của chị Biền Thị Tâm là mẹ của Hồ Hoàng A. Chị Tâm không biết là A lấy xe của mình để đi trộm cắp tài s n vào ngày 30/9/2021 nên ngày 22/11/2021 Cơ quan điều tra đã tr lại chiếc xe mô tô biển s 86B2-077.11 cho chị Tâm.

Về hần dân s : Sau khi nhận lại tài s n chị Q và chị Vân không yêu cầu bồi thường gì thêm, chị M không yêu cầu V và S hoàn lại s tiền 600.000 đồng nên không xem xét gi i quyết.

Tại b n cáo trạng s 36/CT-VKS.HBB ngày 11/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy t bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội: “Trộm cắp tài s n” theo điểm g kho n 2 điều 173, bị cáo Phạm Lê Trí V về tội: “Trộm cắp tài s n” theo điểm a,b; kho n 1 điều 173, bị cáo Hồ Hoàng A về tội: “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình luận tội đ i với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy t và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên b : Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Phạm Lê Trí V, Hồ Hoàng A cùng phạm tội: “Trộm cắp tài s n”

Áp dụng: điểm g kho n 2 điều 173; điểm h, s kho n 1 điều 51; điểm g kho n 1 điều 52; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử h t: Bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 30 đến 36 tháng tù

Áp dụng: điểm a,b; kho n 1 điều 173; điểm h,s kho n 1 điều 51; điểm h kho n 1 điều 52; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử h t: Bị cáo Phạm Lê Trí V từ 15 đến 18 tháng tù

Áp dụng: Kho n 1 điều 173; điểm h, s kho n 1 điều 51; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử h t: Bị cáo Hồ Hoàng A từ 09 đến 12 tháng tù.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Phạm Lê Trí V, Hồ Hoàng A, bị hại không trA luận gì, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo

Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.

N N ỊN Ủ

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình,Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình,Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Phạm Lê Trí V, Hồ Hoàng A không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Phạm Lê Trí V, Hồ Hoàng A đã thừa nhận: Vào kho ng 07 giờ 00 phút ngày 30/9/2021 và kho ng 09 giờ 00 phút ngày 01/10/2021, tại thị trấn Lương S, huyện Bắc Bình. Bị cáo Nguyễn Ngọc S cùng với bị cáo Hồ Hoàng A đã có hành vi lén lút, bí mật lấy trộm 12 con gà trị giá 2.060.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kim Q và Nguyễn Ngọc S cùng với bị cáo Phạm Lê Trí V lén lút, bí mật lấy trộm 01 bao đậu đen trị giá 1.050.000 đồng của Hồ Thị Mỹ Vân đem đi bán thì bị Công an phát hiện. Tài s n đã được thu hồi và giao tr cho bị hại.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn T phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các tài liệu,chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: “Trộm cắp tài s n” theo điểm g kho n 2 điều 173, bị cáo Phạm Lê Trí V phạm tội: “Trộm cắp tài s n” theo điểm a,b; kho n 1 điều 173, bị cáo Hồ Hoàng A phạm tội: “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở và đúng pháp luật.

Đây là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, trong vụ trộm gà thì Nguyễn Ngọc S là người rủ rê bị cáo Hồ Hoàng A và bị cáo Hồ Hoàng A là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài s n. Trong vụ trộm bao đậu đen thì bị cáo Phạm Lê Trí V là người rủ rê bị cáo Nguyễn Ngọc S và bị cáo Nguyễn Ngọc S là người giúp sức cho bị cáo Phạm Lê Trí V thực hiện tội phạm.Do đó, các bị cáo ph i chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo đã gây ra.

Các bị cáo hoàn T nhận thức được hành vi chiếm đọat tài s n là hành vi nguy hiểm cho xã hội ph i bị xử lý nhưng do b n chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, các bị cáo đã phạm tội. Các bị cáo có nhân thân xấu. Các bị cáo phạm tội do lỗi c ý trực tiếp.

Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài s n của người bị hại mà còn gây nh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó,nghĩ nên tuyên cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra để c i tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đ i tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.

[3]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hồ Hoàng A và Phạm Lê Trí V đã thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn.Đây là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s; kho n 1; Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4]Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong vụ án này,bị cáo Nguyễn Ngọc S thực hiện hành vi phạm tội 02 lần. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, kho n 1, điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015(Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng đ i với bị cáo Nguyễn Ngọc S

Trong vụ án này,bị cáo Phạm Lê Trí V thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích.Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, kho n 1, điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng đ i với bị cáo Phạm Lê Trí V.

[5]Về trách nhiệm dân sự:

Tài s n trộm cắp đã được thu hồi giao tr cho bị hại. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét

[6]Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với bị cáo.

[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hồ Hoàng A và Phạm Lê Trí V ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[8]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật T tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

ỊN :

Căn cứ vào: Kho n 1, Điều 268; Kho n 1, Điều 269 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015.

Tuyên b : Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hồ Hoàng A và Phạm Lê Trí V cùng phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

Áp dụng: điểm g kho n 2 điều 173; điểm h, s kho n 1 điều 51; điểm g kho n 1 điều 52; Điều 17, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 30 (Ba mươi ) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021

Áp dụng: điểm a,b; kho n 1 điều 173; điểm h, s kho n 1 điều 51; điểm h, kho n 1 điều 52; Điều 17,điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Phạm Lê Trí V 15 (Mười lăm ) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021

Áp dụng: Kho n 1 điều 173; điểm h,s kho n 1 điều 51; Điều 17; điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng A 09 (Chín ) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án

Áp dụng: Kho n 2 Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; điểm a, kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hồ Hoàng A và Phạm Lê Trí V: Mỗi người ph i nộp 200.000 đồng án phí HSST

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được b n án hoặc niêm yết b n án.

Cỡ chữ