vanban.org

Bản án 53/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Và A N; trú tại: Bản M, xã C, tỉnh Sơn La.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng. Thời hạn được tính từ ngày 31/7/2026. Được trừ đi 01 (một) ngày để xác định tình trạng nghiện ma túy. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Và A N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Và A N; trú tại: Bản M, xã C, tỉnh Sơn La.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét; Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 53/QĐ-TASơn La, ngày 31 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Thư ký phiên họp: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Tòa án.

Ngày 31/7/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Tiến hành phiên họp xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Theo Quyết định mở phiên họp số: 53/2026/QĐ-TA ngày 31/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La đối với:

Và A N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 29/5/1984; số định danh cá nhân: 014084009753; nơi cư trú: Bản M, xã C, tỉnh Sơn La; dân tộc: Mông; nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 05/12; Tiền án: 02 tiền án; Tiền sự: Không; Con ông: Và Chồng D (đã chết) và bà Lầu Thị K, sinh năm 1959; Người bị đề nghị Và A N có mặt tại phiên họp.

Người đề nghị: Ông Vừ A Khoa – Chức vụ: Trưởng Công an xã C, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên họp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên họp: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên, có mặt tại phiên họp.

NHẬN THẤY:

Ngày 18/12/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số: 456/QĐ-UBND ngày 18/12/2025 đối với Và A N với thời hạn 01 năm, kể từ ngày 18/12/2025. Ngày 30/7/2026, Và A N trình bày về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như sau: Ngày 30/7/2026 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là ma túy loại Heroine và ma túy tổng hợp bằng hình thức đốt hítt, tần suất sử dụng 02 lần/01 tuần. Lý do sử dụng là Và A N thừa nhận nghiện ma túy từ năm 2022 cho đến nay. Lần này là lần đầu đi cai nghiện ma túy. Ngày 30/7/2026 Công an xã C, tỉnh Sơn La phối hợp với Trạm y tế xã C tiến hành xét nghiệm đối với Và A N, qua xét nghiệm Và A N dương tính với chất ma túy.

Ngày 30/7/2026 Công an xã C, tỉnh Sơn La phối hợp với Trạm y tế xã C, tỉnh Sơn La để xác định tình trạng nghiện ma túy. Kết quả xác định Và A N có nghiện ma túy nhóm MOP và MET. Ngày 31/7/2026 Công an xã C ra Quyết định số: 484/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Và A N.

Xét hành vi của Và A N chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 31/7/2026, Trưởng Công an xã C, tỉnh Sơn La đề nghị đưa Và A N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp ý kiến của người đề nghị Công an xã C, tỉnh Sơn La đề nghị đưa Và A N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La với thời gian là 24 tháng.

Tại phiên họp ý kiến người bị đề nghị anh Và A N nhất trí đi cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Thẩm phán, Thư ký và Cơ quan đề nghị giải quyết theo đúng trình tự tố tụng được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Luật Phòng chống ma túy, Luật phòng chống ma túy; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

Người bị đề nghị Và A N chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ do Công an xã C, tỉnh Sơn La lập. Trên cơ sở xem xét toàn diện hồ sơ, ý kiến của người đề nghị Trưởng Công an xã C, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của người bị đề nghị tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Người bị đề nghị Và A N có năng lực trách nhiệm hành chính, có hiểu biết pháp luật, có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy, đã được áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 456/QĐ-UBND ngày 18/12/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Sơn La. Ngày 30/7/2026 Và A N bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy. Ngày 31/7/2026, kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy xác định: Và A N có nghiện ma túy nhóm MOP và MET. Ngày 31/7/2026 Công an xã C, tỉnh Sơn La ra quyết định số: 484/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Và A N. Và A N thừa nhận nghiện ma túy, không thực hiện, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, đây là lần cai nghiện ma túy lần đầu.

Từ các căn cứ trên xác định việc cơ quan đề nghị lập hồ sơ và đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Và A N là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Xét trình tự hồ sơ do người đề nghị lập đã đúng trình tự theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào Điều 3, Điều 5, Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ vào khoản 1 Điều 29, Điều 30, Điều 35 Luật phòng chống ma túy. Căn cứ Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Căn cứ vào Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 54 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp lại tổ chức bộ máy nhà nước.

Căn cứ Pháp lệnh số: 08/2025/UBTVQH15; ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển,Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Pháp lệnh Chi phí tố tụng.

Chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã C, tỉnh Sơn La đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Và A N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Và A N; trú tại: Bản M, xã C, tỉnh Sơn La.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng. Thời hạn được tính từ ngày 31/7/2026. Được trừ đi 01 (một) ngày để xác định tình trạng nghiện ma túy.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại, Người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La có quyền kháng nghị quyết định của Toà án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã C, tỉnh Sơn La tổ chức thi hành đưa Và A N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La; địa chỉ: Bản Mạt, xã Chiềng Mung, tỉnh Sơn La.

Trường hợp Và A N không chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Công an xã C quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật để đưa người phải chấp hành đến cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ