vanban.org

Bản án 53/HSST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 03/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm khoản 1 điều 173; điểm r, điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 - Bộ luật Hình sự. [3] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/ 7/ 2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trường - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN MỸ HÀO
TỈNH HƯNG YÊN
-----***-----
Bản án số: 53/2018/HSST
Ngày: 03/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phan Xuân Hùng

2/ Bà Lê Thị Tiến.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Hào tham gia phiên toà: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở UBND xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2018/HSST ngày 17 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2018/HSST - QĐ ngày 19 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1986

- Nơi cư trú: Thôn 1, xã Quảng C, thành phố H, tỉnh H.

- Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam;

- Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không.

- Con ông Trần Văn T (sinh năm 1938) và bà Bùi Thị T (sinh năm 1941);

- Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Con: Chưa có;

- Tiền án: Không.

- Tiền sự:

+ Ngày 22/9/2010 bị Công an TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 12/5/2016 bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý;

+ Ngày 08/2/2018 bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

+ Ngày 23/4/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì nghiện ma tuý.

- Nhân thân:

+ Ngày 29/10/2010 bị TAND huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản;

1

+ Ngày 31/5/2012 bị TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản;

+ Ngày 17/6/2014 bị TAND thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản;

+ Ngày 20/5/2016 bị TAND thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì nghiện ma tuý.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hưng Yên.Có mặt tại phiên tòa

*Người bị hại: Chị Đỗ Hoàng Tâm A, sinh năm 1998 (Vắng mặt)

HKTT: thôn Lạc T, thị trấn H, huyện T, tỉnh B

*Người liên quan: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1968(Vắng mặt)

HKTT: Thôn V, thị trấn B, huyện M, tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài hiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 30 tháng 4 năm 2018, lực lượng Công an huyện M phối hợp với Công an xã N tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thôn N, xã N, huyện M, tỉnh H phát hiện có một đối tượng nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra nam thanh niên khai tên là Trần Văn T, sinh năm 1986 ở thôn 1, xã Q, thành phố H, tỉnh H đang đi xem có gia đình nào sở hở để trộm cắp tài sản, đồng thời tự nguyện giao nộp: 01 ba lô bằng vải màu đen bên trong có: 01 kìm cộng lực dài 45 cm, sơn màu xanh, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu ASUS và 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu MASSTEl tap 750 đều đã cũ và bị vỡ màn hình; 01 điện thoại di động Nokia 1110i , vỏ màu xanh trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phần lưỡi trai có đính 04 khuyên bằng kim loại; 01 áo phông dài tay có in hoạ tiết hoa văn tối màu nên đã lập biên bản đưa về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra T khai trước đó: Sáng ngày 25 tháng 4 năm 2018, T một mình mang theo 01 ba lô bằng vải, màu đen bên trong có 01 kìm cộng lực, đi xe bus từ thành phố H đến phố N, thị trấn B, huyện M, tỉnh H, sau đó đi vào khu dân cư xem có gia đình nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi T đến khu nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Văn S ở thôn V, thị trấn B. Thấy cổng nhà ông S không khoá, T đi vào bên trong và đi lên tầng hai của khu trọ quan sát thấy phòng số 16 của chị Đỗ Hoàng Tâm A (thuê trọ) khoá cửa bên ngoài bằng chiếc khoá Việt Tiệp màu đen. Sau khi quan sát xung quanh không thấy ai, T đã sử dụng kìm cộng lực cắt chiếc khoá cửa phòng chị Tâm A, sau đó cất chiếc

2

khoá vào túi quần, bên trái phía trước, còn chiếc kìm cộng lực T để vào trong ba lô rồi tiếp tục đi vào bên trong phòng trọ, khép cửa lại. T quan sát thấy tại vị trí trong cùng, bên phải của phòng trọ có kê một chiếc tủ đựng quần áo nên đã tiến lại gần, mở cánh tủ ra tìm tài sản nhưng chỉ thấy quần áo nên không lấy được gì. Lúc này T phát hiện trên nóc tủ quần áo có để một chiếc chăn bông, bên dưới chiếc chăn là 01 chiếc máy tính laptop, vỏ màu đen nên T dùng tay trái với lên giữ chăn, tay phải rút chiếc máy tính. Sau đó T cất chiếc máy tính nói trên vào trong ba lô và tìm dây sạc của máy tính nhưng không thấy nên T đã ra khỏi phòng, khép cửa lại và đi ra khỏi khu nhà trọ rồi đi xe bus về thành phố H.

Sau khi lấy trộm được chiếc máy tính của chị Tâm A, T mang đến cửa hàng “Viện điện tử, máy tính viễn thông Sài Gòn” tại số 362 thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên do anh Cao Văn P làm chủ, T hỏi bán nhưng anh P không mua. Tại đây T nhờ anh P cài lại hệ điều hành máy tính, sau đó T mang xuống thành phố H bán cho một người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ được 900.000đ, số tiền trên T đã tiêu xài hết.

Quá trình điều tra còn xác định: T là đối tượng nghiện ma tuý, thuộc diện hộ nghèo, không có nghề nghiệp, đã có tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/4/2018 T bị Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời gian chờ thi hành quyết định nói trên của Toà án, T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền. Ngày 25 tháng 4 năm 2018, T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Tâm A. Đến ngày 30/4/2018, sau khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, T được đưa đến Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh H để được điều trị và học tập.

Ngày 01 tháng 5 năm 2018, chị Đỗ Hoàng Tâm A đã có đơn trình báo đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M về việc ngày 25 tháng 4 năm 2018, tại phòng trọ số 16, trên tầng hai trong khu trọ của gia đình ông Nguyễn Văn S, chị bị kẻ gian lấy trộm 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, loại X544, vỏ màu đen đã cũ trị giá khoảng 6.000.000đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T tại thôn 1, xã Q, thành phố H, tỉnh H, nhưng không thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì.

Tiến hành cho T chỉ dẫn đến nơi T đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc máy tính laptop, nhãn hiệu ASUS, loại X544 nói trên của chị Tâm A và cho T thực nghiệm điều

3

tra. T đã chỉ dẫn đến được phòng trọ số 16, trên tầng hai trong khu trọ nhà ông Nguyễn Văn S. Đồng thời T đã thực hiện lại được toàn bộ quá trình trộm cắp chiếc máy tính của chị Tâm A như T đã khai nhận nói trên.

Tiến hành cho T chỉ dẫn đến nơi Thỏi bán và nhờ cài đặt lại hệ thống điều hành chiếc máy tính T trộm cắp được của chị Tâm A. T đã chỉ dẫn được đến cửa hàng “Viện điện tử, máy tính viễn thông Sài Gòn” có địa chỉ tại số 362 thị trấn L, huyện K, tỉnh H do anh Cao Văn P làm chủ.

Tiếp đó cho anh Cao Văn P nhận dạng T. Anh P đã nhận ra T và khẳng định T chính là người ngày 25 tháng 4 năm 2018 đã mang chiếc máy tính laptop nhãn hiệu ASUS, loại X544 đến hỏi bán nhưng anh không mua, sau đó nhờ anh cài lại hệ thống điều hành của chiếc máy tính nói trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐ ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mỹ Hào kết luận: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, mã X544; cấu hình Core i3 5005U/HDD500GB/Ram 4GB; năm sử dụng 09/2017 giá trị tài sản còn lại là 6.960.000 đồng.

Đối với chiếc máy tính laptop nhãn hiệu ASUS, loại X544, vỏ màu đen. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Tâm A. Sau khi trộm cắp được chiếc máy tính nói trên, T đã bán cho một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở thành phố H, tỉnh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy. Nay chị Tâm A yêu cầu T phải bồi thường cho chị giá trị còn lại của chiếc máy tính nói trên.

Đối với chiếc khoá Việt Tiệp chị Tâm A sử dụng để khoá cửa phòng. Trường khai trên đường từ khu trọ nhà ông S ra bắt xe về thành phố H, T đã vứt chiếc khoá nói trên xuống ruộng rau ở ven đường thuộc thôn V, thị trấn B, huyện M, tỉnh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã truy tìm nhưng không thấy. Chị Tâm A xác định giá trị của chiếc khoá không lớn nên không yêu cầu T phải bồi thường

Đối với 01 ba lô bằng vải màu đen; 01 kìm cộng lực dài 45 cm, sơn màu xanh, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 điện thoại di động Nokia 1110i, vỏ màu xanh trắng; 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu ASUS và 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu MASSTEl tap 750 đều đã cũ và bị vỡ màn hình; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phần lưỡi trai có đính 04 khuyên bằng kim loại; 01 áo phông dài tay có in hoạ tiết hoa văn tối màu quản lý của T. Quá trình điều tra xác định đều là tài sản của T. Trong đó, chiếc kìm cộng lực và chiếc ba

4

lô T sử dụng vào việc trộm cắp tài sản ngày 25/4/2018. Những tài sản còn lại không liên quan đến việc phạm tội. Nay T không có yêu cầu được nhận lại.

Đối với người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở thành phố H, tỉnh H, theo T khai đã mua chiếc máy tính laptop mà T trộm cắp được của chị Tâm A. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành rà soát nhưng chưa xác định được lại lịch, địa chỉ cụ thể nên tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSMH ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

- Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố.

- Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm r, điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

- Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Đồng thời Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các vần đề về hình phạt bổ sung, vật chứng và án phí đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

/ Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp khách quan với lời khai của người bị hại, của người liên quan, của người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của bản cáo trạng mà vị đại diện VKS đã nêu và đã có đủ cơ sở kết luận: “Sáng ngày 25 tháng 4 năm 2018, tại phòng trọ số 16, thuộc khu trọ của gia đình nhà ông Nguyễn Văn S ở thôn V, thị trấn B, huyện M, tỉnh H. Trần Văn T đã có hành vi dùng kìm cộng lực cắt khoá cửa, lén lút trộm cắp của chị Đỗ Hoàng Tâm A 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu ASUS loại X544, vỏ màu đen trị giá 6.960.000đ”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ bảo vệ. Chỉ vì thói quen chơi bời hưởng thụ, khi không có tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý khu trọ của gia đình của ông Nguyễn Văn S và có hành vi phá khóa cửa, đột nhập vào nơi ở của chị Tâm A rồi lén lút trộm cắp tài sản

5

của chị Tâm A. Sau đó bị cáo tiếp tục có các hành vi nhằm tiêu thụ tài sản trộm cắp. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng nghiên trọng đến tình hình an ninh trật tự địa phương, là nỗi lo lắng bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu do đã bị nhiều Tòa án của nhiều địa phương xử phạt tù về các hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo đã bị công an thành phố phố H nhiều lần xử lý hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hơn nữa ngày 23 tháng 4 năm 2018, T bị Tòa án nhân dân thành phố H áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì đến ngày 30 tháng 4 năm 2018, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Tâm A. Điều này chứng tỏ bị cáo là người không chịu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, coi thường pháp luật và liều lĩnh trong việc thực hiện tội phạm; gây sự bức xúc đặc biệt trong dư luận. Vì vậy nay cần phải nghiêm trị đối với bị cáo; đồng thời Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Có vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và cũng là bài học giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi bị kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Để thể hiện sự khoan hồng của Pháp luật, nay Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:

- Chị Tâm A yêu cầu bị cáo phải bồi thường trả chị giá trị chiếc máy tính mà bị cáo trộm cắp. Vì nay sẽ buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại trả chị Tâm A theo quy định của pháp luật.

- Chị Tâm A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trả chị giá trị chiếc khoá Việt Tiệp nên Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận sự tự nguyện này của chị Tâm A.

- Đối với các vật chứng gồm 01 ba lô bằng vải màu đen; 01 kìm cộng lực dài 45 cm, sơn màu xanh, tay cầm bằng nhựa màu đen là các công cụ bị cáo dùng để thực hiện tội phạm có giá trị sử dụng không lớn. Vì vậy nay sẽ tịch thu cho hủy bỏ các vật chứng này.

- Các vật chứng gồm 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu ASUS và 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu MASSTEl tap 750 đều đã cũ và bị vỡ màn hình , 01 mũ lưỡi trai màu đen, phần lưỡi trai có đính 04 khuyên bằng kim loại; 01 áo phông dài tay có in hoạ tiết hoa văn tối màu là tài sản của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội, Tuy nhiên bị cáo không có yêu cầu được nhận lại. Hội đồng xét xử xác định các tài sản trên có giá trị không lớn. Vì vậy nay sẽ cho tịch thu hủy bỏ các vật chứng này.

- 01 điện thoại di động Nokia 1110i, vỏ màu xanh trắng sẽ cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136-BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên, HĐXX sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Mỹ hào

QUYẾT ĐỊNH

6

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm khoản 1 điều 173; điểm r, điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 - Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/ 7/ 2018.

[4] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về các biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điểm a khoản 1 điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự, các điều 584, 585, 586, 589 - BLDS.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1110i, vỏ màu xanh trắng;

- Tịch thu cho hủy bỏ các vật chứng gồm: 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu ASUS và 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu MASSTEl tap 750 đều đã cũ và bị vỡ màn hình; 01 ba lô bằng vải màu đen; 01 kìm cộng lực dài 45 cm, sơn màu xanh, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phần lưỡi trai có đính 04 khuyên bằng kim loại; 01 áo phông dài tay có in hoạ tiết hoa văn tối màu.

- Buộc bị cáo phải bồi thưởng thiệt hại trả chị Đỗ Hoàng Tâm A giá trị chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS số tiền 6.960.000đ (Sáu triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn).

Theo quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ – VKSMH – HS ngày 14/9/2018

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không thi hành khoản tiền phải bồi thường trả chị Đỗ Hoàng Tâm A thì bị cáo sẽ phải chịu lãi suất theo quy định tại các điều 357, 468 - BLDS.

[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST và 348.000đ án phí DSST.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật./

Cỡ chữ