vanban.org

Bản án 53/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Đăng K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Dang Kh - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2026/HS-ST
Ngày 20 - 8 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỵ Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Hạnh

2. Ông Dư Quốc Kiệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2026/TLST – HS ngày 20 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2026/QĐXXST – HS ngày 06 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Đăng K (Tên gọi khác: không có), sinh ngày 01/01/1992 tại tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T và bà Võ Thị Ngọc P; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 28/9/2023, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 420/2023/QĐ-TA ngày 28/9/2023, chấp hành xong ngày 14/4/2025 và đang được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn đến ngày 15/4/2027; nhân thân: Ngày 28/11/2019, bị Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau) xử 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo Bản án số 50/2019/HS-ST ngày 28/11/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2020, đã được xoá án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2026 đến nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Đăng K là người nghiện ma túy, ngày 28/9/2023, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 420/2023/QĐ-TA ngày 28/9/2023, chấp hành xong Quyết định đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 14/4/2025. Ngày 07/4/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 27/QĐ-UBND đối với bị cáo Trần Đăng K, thời hạn quản lý đến ngày 15/4/2027.

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 01/03/2026, do cần sử dụng ma tuý nên bị cáo Trần Đăng K điều khiển xe máy đến khu vực bãi đất trống gần Ngã 3 H thuộc ấp P, xã H, tỉnh Cà Mau để mua ma tuý dạng Heroin của người đàn ông (không rõ họ tên, đặc điểm nhận dạng cụ thể), được đựng trong ống nhựa hàn kín hai đầu với số tiền 200.000 đồng, sau khi mua được ma tuý Trần Đăng K đi về.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Trần Đăng K đi đến khu vực bãi đất trống khu vực ấp A, xã V để sử dụng ma tuý. Bị cáo K cho hết ma tuý vừa mua vào ống kim tiêm (thường gọi là tiêm đầu đỏ dùng cho người bị tiểu đường, được K mua ở tiệm thuốc tây khu vực xã H), hút nước vào kim tiêm đến vạch số E, lắc đều, rồi tiêm hết ma tuý trong ống kim tiêm vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma tuý, K vứt ống kim tiêm gần đó rồi đi về nhà.

Đến khoảng 13 giờ ngày 02/3/2026, Công an xã V tiến hành kiểm tra, kết quả test Trần Đăng K dương tính với ma tuý nên tiến hành thu mẫu nước tiểu phục vụ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 188/KL-KTHS ngày 14/3/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: Tìm thấy chất Morphine và 6-Monoacetylmorphine (6-MAM) là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Heroin (Heroine) trong mẫu nước tiểu của Trần Đăng K.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT – VKSCMU-KV ngày 20 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau đã truy tố bị cáo Trần Đăng K về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Đăng K theo nội dung Cáo trạng số 30/CT – VKSCMU-KV ngày 20 tháng 7 năm 2026 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Đăng K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 08/5/2026.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo Trần Đăng K xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng số 30/CT – VKSCMU-KV ngày 20 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau đã mô tả và truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đăng K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, biên bản về việc xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Trần Đăng K là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 07/4/2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) từ ngày 15/04/2025 đến ngày 15/04/2027, nhưng vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 01/03/2026, bị cáo Trần Đăng K tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Heroin tại khu vực bãi đất trống thuộc ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. Hành vi của bị cáo Trần Đăng K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Trong lúc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Đăng K có đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đăng K đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vì vậy, Cáo trạng số 30/CT – VKSCMU-KV ngày 20 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau đã truy tố bị cáo Trần Đăng K về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đăng K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý các chất ma túy, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 28/11/2019, bị Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau) xử 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo Bản án số 50/2019/HS-ST ngày 28/11/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2020, đã được xoá án tích. Mặc khác vào ngày 05 tháng 5 năm 2026 Trần Đăng K bị Công an xã V, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Chấp hành xong ngày 11/5/2026. Điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo Trần Đăng K là rất kém nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giúp bị cáo cai nghiện ma túy, răn đe, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng K đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm I, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Trần Đăng K khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng: Đối với ống tiêm bị cáo Trần Đăng K dùng để sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra Công an tỉnh C không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo Trần Đăng K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận quan điểm Luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà, đồng thời chấp nhận một phần đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2026.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Đăng K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đăng K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ