- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lê Xuân C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11-5-2026 “V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Lê Hợp Huyên.
2. Bà Phan Thị Thanh Thủy.
-Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 27/2026/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 42/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2026/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: Khối L, phườn T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lê Xuân C, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Khối L, phườn T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21/10/2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Xuân C kết hôn với nhau vào ngày 27 tháng 12 năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (nay là UBND phường T, tỉnh Nghệ An), hôn nhân giữa chị và anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau bình thường đến năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2025 đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay không còn ai quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể sống chung với nhau được nữa nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Xuân C.
Về con chung: Chị và anh C có một con chung là Lê Nguyễn Đan T1, sinh ngày 12/11/2021, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.
Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của vợ chồng đến lúc con chung trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Lê Xuân C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho anh C. Tuy nhiên anh C làm nghề lái xe, thường xuyên đi về tại địa phương. Do đó Tòa án đã niêm yết các văn văn tố tụng cho anh C theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lê Xuân C.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị T và anh C đến lúc con chung trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Lê Xuân C cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về chia tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ án phí LHST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An giải quyết ly hôn với anh Lê Xuân C có hộ khẩu thường trú tại khối L, phường T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin được xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Xuân C đã được Toà án triệu phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Xuân C, đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (nay là UBND phường T, tỉnh Nghệ An), hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị T và anh C là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị T nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2025 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh tại địa phương xác định quá trình chug sống chị T, anh C có xảy ra mâu thuẫn hay không và nguyên nhân mâu thuẫn thế nào thì ban cán sự khối không nắm được. Anh C làm nghề lái xe, thường xuyên đi về tại địa phương. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã triệu tập, thông báo, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh C nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh C không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng.
Xét mâu thuẫn giữa chị T, anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị T được ly hôn với anh C như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 là có căn cứ.
2.2. Về nuôi con chung: Chị T và anh C có một con chung là Lê Nguyễn Đan T1, sinh ngày 12/11/2021, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.
Xét quá trình giải quyết vụ án, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị T và anh C và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị T làm nghề lao động tự do, đảm bảo thu nhập, điều kiện ăn ở, sinh hoạt để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Quá trình Tòa án xác minh tại địa phương xác định được trong quá trình chung sống chị T và anh C đều không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Hơn nữa con chung hiện tại đang được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh C đều vắng mặt không có lý do. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chung của chị T và anh C được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên khi chị T, anh C ly hôn, cần giao con chung của chị T, anh C cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8
- Nghệ An là phù hợp.
Chị T không yêu cầu anh C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 238 và các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lê Xuân C.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị T và anh C là Lê Nguyễn Đan T1, sinh ngày 12/11/2021, đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
2.2. Chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000359 ngày 16/01/2026, tại Thi hành án dân sự tỉnh N (chị T đã nộp đủ tiền án phí).
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND khu vực 8 - Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An; - UBND P. Tây Hiếu (ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |