vanban.org

Bản án 53/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Trúc L1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thái Thị T L ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ3. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Thái Thị T L khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11-AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28-01-2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Ngọc Liêm và ông Võ Lâm Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 460/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025, về việc “tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 448/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị Trúc L ngày 30/06/2002, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: số E, tổ B, ấp L, xã L, tỉnh An Giang; có văn bản xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Đ ngày 29/01/2002, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: số B, ấp T, xã C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Thái Thị Trúc L1 trình bày: Bà Thái Thị Trúc L1 và ông Nguyễn Quốc Đ1 quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn số 136 do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giangcấp ngày 11/10/2023, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tỉnh không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất hoà, cả hai cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng không thể nào sống chung được nữa và ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ2 con chung: không có; Về tài sản chung: không có; Về nợ chung: không có.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc Đ3 không gửi ý kiến cho Tòa án, vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Thái Thị T L khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ3. Ông Đ có nơi cư trú trên địa bàn xã C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11-An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bà Thái Thị Trúc L1, có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Quốc Đ3 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Thái Thị Trúc L1 và ông Nguyễn Quốc Đ3 là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn trình bày là do không tôn trọng nhau, tính tỉnh không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất hoà, cả hai cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng không thể nào sống chung được nữa và ly thân. Hội đồng xét xử thấy rằng bà L xin ly hôn với ông Đ, bà L, ông Đ sống chung với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, chính vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho nên Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.

Về quan hệ con chung: Bà Thái Thị Trúc L1 xác định vợ chồng không có con chung nên không xét đến.

Về quan hệ tài sản chung: Bà Thái Thị T L khởi kiện xác định không có nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà Thái Thị T L khởi kiện xác định không có nên không xét đến.

Về án phí: Bà Thái Thị Trúc L1 phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào,

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Trúc L1.

1) Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thái Thị T L ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ3.

2) Về con chung: Bà Thái Thị Trúc L2 định vợ chồng không có con chung nên không xét đến.

3) Về tài sản chung và về nợ chung: Bà Thái Thị T L khởi kiện xác định không có nên không xét đến.

4) Về án phí: Bà Thái Thị Trúc L1 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010710 ngày 02/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Thái Thị Trúc L1 đã nộp đủ.

5) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ