- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP S và ông Phạm Thanh H"
- Tòa quyết gì? cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2026/DS-ST Ngày: 23/4/2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Mai Khanh
2. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Anh Đào – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2026/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2026 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2026/QĐST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S; Địa chỉ trụ sở: 266-268
Đường N, phường Võ Thị S, Quận B (nay là phường Xuân H), Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: 278 Đường N, phường Võ Thị S, Quận B (nay là phường Xuân H), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1998; Địa chỉ liên
lạc: Lầu 4, Số 278 Đường N, phường Võ Thị S, Quận B (nay là phường Xuân H), Thành phố Hồ Chí Minh; (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Thanh H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: 522 đường V,
Phường M, Quận S (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2024, trong bản tự khai và quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (từ đây viết tắt là Ngân hàng) do ông Nguyễn Đình L là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/11/2016, ông Phạm Thanh H có ký với Ngân hàng Thương Mại Cổ
Phần S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (đơn vị phát hành thẻ) – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập trong đơn đề nghị của ông H và chính sách cấp thẻ của Ngân hàng, ngày 27/10/2016 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng MC Ctless Cre Classic (số thẻ 512341 - 1310 và số tài khoản 3660745856) với hạn mức sử dụng là 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) cho ông Phạm Thanh H, mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất áp dụng theo biểu lãi suất áp dụng theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S, tại thời điểm ký Hợp đồng, lãi suất trong hạn đối với loại tín dụng này là 2,15%/tháng.
Thực hiện Hợp đồng trên, ông H đã kích hoạt và sử dụng thẻ. Quá trình sử
dụng thẻ, từ khi kích hoạt thẻ cho đến nay ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 385.350.962đồng, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 366.550.016đồng, sau đó ông H không tiếp tục thanh toán số tiền đã sử dụng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng nữa, Ngân hàng cũng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 01/5/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông H và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 23.015.449đ (hai mươi ba triệu không trăm mười lăm nghìn bốn trăm bốn mươi chín đồng) làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất được công bố, áp dụng tại từng thời điểm do Ngân hàng công bố.
Tính đến ngày 23/4/2026, ông H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là
86.107.549đồng (tám mươi sáu triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 23.015.449đồng và tiền lãi quá hạn là 63.092.100đồng.
Nay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S yêu cầu ông Phạm Thanh H thanh
toán ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2026 là 86.107.549đồng (tám mươi sáu triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 23.015.449đồng và tiền lãi quá hạn là 63.092.100đồng. Ông Phạm Thanh H còn phải thanh toán cho Ngân hàng khoản lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 24/4/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Thanh H không đến Tòa làm
việc theo triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông Phạm Thanh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Về án phí: bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S khởi kiện yêu cầu ông Phạm Thanh H
(có địa chỉ tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) phải thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông H ký, được Ngân Hàng phê duyệt hạn mức tín dụng ngày 24/11/2016, mục đích sử dụng vốn vay là để tiêu dùng. Như vậy, đây là tranh chấp về dân sự, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn là ông Phạm Thanh H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng
hợp lệ theo địa chỉ do ông H cung cấp trong hợp đồng để tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án đã thông báo cho ông Phạm Thanh H về
việc Tòa án thụ lý vụ kiện và các nội dung mà nguyên đơn yêu cầu cùng với các chứng cứ kèm theo về địa chỉ mà ông H đã cung cấp khi tiến hành giao dịch với Ngân hàng S, tuy nhiên phía ông H không có mặt trong quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa, đồng thời Tòa án cũng không nhận được ý kiến hoặc văn bản của ông H về việc phản đối các tình tiết mà phía nguyên đơn đưa ra. Theo quy định tại khoản 2 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự: Những tình tiết, sự kiện đương sự đưa ra mà đương sự kia thừa nhận hoặc không phản đối thì đương sự đó không phải chứng minh. Vì vậy, Tòa án công nhận những tình tiết, sự kiện và tài liệu Ngân hàng S đưa ra có giá trị chứng minh.
Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Phạm Thanh H ký
và được Ngân hàng phê duyệt chấp nhận ngày 24/11/2016, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S và lời trình bày của đại diện Ngân hàng S, cho thấy giao dịch giữa Ngân hàng S và ông Phạm Thanh H là “Hợp đồng tín dụng”, mức lãi suất hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hợp đồng có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 117, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực thực hiện.
Về số tiền ông Phạm Thanh H còn nợ ngân hàng: theo lời trình bày của đại
diện Ngân hàng S thì từ khi kích hoạt thẻ cho đến nay ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 385.350.962đồng, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 366.550.016đồng, sau đó ông H không tiếp tục thanh toán số tiền đã sử dụng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng nữa. Tính đến ngày 23/4/2026, ông H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 86.107.549đồng (tám mươi sáu triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 23.015.449đồng và tiền lãi quá hạn là 63.092.100đồng.
Như vậy, phía ông H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký
giữa hai bên. Theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự thì ông H phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S nên đã có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc ông H phải thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn.
Về thời hạn thanh toán: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S yêu cầu ông
Phạm Thanh H phải có trách nhiệm thanh toán ngay cho Ngân hàng S toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 23/4/2026 là 86.107.549đồng (tám mươi sáu triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 23.015.449đồng và tiền lãi quá hạn là 63.092.100đồng là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất
trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm thì:
“Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản
tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”. Nên ông Phạm Thanh H còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn trên phần nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh H phải chịu án phí dân sự
là: 86.107.549đồng x 5% = 4.305.378đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2
Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 417, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1/ Buộc ông Phạm Thanh H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ
Phần S số tiền tạm tính đến ngày 23/4/2026 là 86.107.549đ (tám mươi sáu triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 23.015.449đồng và tiền lãi quá hạn là 63.092.100đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký, phê duyệt ngày 24/11/2016 giữa ông Phạm Thanh H và Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2/ Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phạm Thanh H còn
phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S thì lãi suất mà ông Phạm Thanh H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phạm Thanh H phải nộp án phí là 4.305.378đồng (bốn triệu ba trăm lẻ
năm nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng).
- Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S không phải nộp án phí, trả lại cho Ngân
hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.787.744đồng (một triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án có ký hiệu BLTU/23P số 0010678 ngày 20/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
5/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - VKSND Khu vực 3-TPHCM; - THADS TPHCM; - Các đương sự; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Hồng Nga |