- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn T và Lý Hải Đ - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn T và Lý Hải Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày 18-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Văn Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tô Thị Lợi.
Bà Hoàng Thị Mơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vục 1 – Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mã Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lý Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 9 năm 1986 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi cư trú: Thôn C, xã H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Xuân C và bà Nông Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 - Tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 18-3-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt số tiền 120.000.000 đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 09/2006/HSST ngày 10-4-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xóa); tại Bản án số 113/2013/HSST ngày 21-8-2012 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xoá); bị tạm giữ từ ngày 12-3-2025; tạm giam từ ngày 15-3-2025 đến nay; có mặt.
2. Lý Hải Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi cư trú: Thôn C, xã H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Xuân C và bà Nông Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 74/2013/HSST ngày 25-9-2013 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xoá); tại Bản án số 26/2008/HSST ngày 27-6-2008 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (đã được xóa); tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 27-11-2020 của Công an thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích (đã được xoá); tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02383QĐ/XPHC ngày 09-6-2011 của Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích (đã được xoá); tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 20-5-2015 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền 150.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã được xoá); tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 08-01-2019 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác (đã được xoá); bị tạm giữ từ ngày 01-4-2025, tạm giam từ ngày 07-4-2025 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Hoàng Anh T1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ D, thôn G, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
2. Ông Hoàng Văn G, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 23-11-2023, Lý Hải Đ, Lý Văn T, Hoàng Văn G, Dương Công G1, Vũ Trung H, Hoàng Đức P đến quán B tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để ăn cơm và uống bia. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Hoàng Văn G và Lý Văn T nói chuyện với Hoàng Đức P về việc giới thiệu việc làm cho Lý Hải Đ. Nhưng Lý Hải Đ tỏ thái độ không cần và nói một số lời lẽ không tôn trọng Hoàng Đức P. Hoàng Văn G ngồi cạnh Lý Hải Đ can ngăn thì Đ dùng tay phải đấm một phát vào mặt bên phải của Giao đồng thời có lời nói lăng mạ, xúc phạm Giao. Thấy vậy, Lý Văn T dùng tay phải cầm một chiếc cốc thuỷ tinh ném trúng vào phần trán của Lý Hải Đ. Lý Hải Đ và Lý Văn T định lao vào đánh nhau thì Hoàng Văn G và mọi người can ngăn. Lý Hải Đ dùng tay phải đấm một phát vào vùng mặt bên trái của Hoàng Văn G. Do bị đánh nên Hoàng Văn G dùng tay phải đấm hai phát liên tiếp vào mặt Lý Hải Đ khiến Đ ngã xuống nền nhà. Khi Lý Hải Đ đứng dậy, Hoàng Văn G lao vào dùng tay trái tát một phát trúng mặt Đ. Mọi người bên cạnh can ngăn, Lý Văn T và Hoàng Văn G bỏ đi. Lý Hải Đ và một số thanh niên ở lại quán. Một lúc sau, Hoàng Văn G quay lại quán B để tìm xe máy. Khi thấy Hoàng Văn G vào sân thì Lý Hải Đ lấy chiếc điếu cày (bằng tre) ở gầm bàn xông ra đánh trúng một phát vào đỉnh đầu của Hoàng Văn G. Bị đánh, Hoàng Văn G và Lý Hải Đ xông vào đánh nhau. Sau khi giằng co, Lý Hải Đ bị ngã nên Hoàng Văn G dùng chân đá hai phát vào mặt Lý Hải Đ. Sau đó, mọi người can ngăn thì Lý Hải Đ bỏ đi chỗ khác. Hoàng Văn G được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh L để khâu vết thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 400/KLTTCT-TTPY ngày 19-11-2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Hoàng Văn G: “Sẹo vết thương vùng đỉnh trái, tỷ lệ 02% (hai phần trăm). Lý Hải Đ từ chối giám định thương tích.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Hoàng Văn G, Lý Văn T, Lý Hải Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Sau khi bị khởi tố vụ án hình, khởi tố bị can thì Lý Văn T và Lý Hải Đ bỏ đi khởi nơi cư trú. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết, ngày 23-11-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của Lý Hải Đ và Lý Văn T và ra quyết định truy nã, tạm đình chỉ điều tra theo quy định. Ngày 12-3-2025, Lý Văn T ra đầu thú. Ngày 01-4-2025, Lý Hải Đ ra đầu thú. Hành vi phạm tội của Hoàng Văn G đã được xử lý theo quy định.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) chiếc điếu cày chiều dài 65cm, đường kính 05cm. Nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-KV1 ngày 04-9-2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố các bị cáo Lý Văn T, Lý Hải Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình năm 2015 đối với các bị cáo Lý Văn T, Lý Hải Đ. Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lý Văn T. Tuyên bố các bị cáo Lý Văn T, Lý Hải Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Lý Văn T từ 27 (hai mươi bẩy) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lý Hải Đ từ 28 (hai mươi tám) tháng tù đến 32 (ba mươi hai) tháng tù.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Chiếc điếu cày bị thu giữ trong vụ án là tài sản của ông Hoàng Anh T1. Ông Hoàng Anh T1 không yêu cầu được trả lại chiếc điếu cày nên đã từ bỏ quyền sở hữu đối với chiếc điếu cày. Ngoài ra, chiếc điều cày và nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ không còn giá trị sử dụng. Do đó, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị: Ghi nhận ông Hoàng Anh T1 từ bỏ quyền sở hữu đối với 01 (một) chiếc điếu cày và tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) chiếc điếu cày, nhiều mảnh huỷ tinh bị vỡ.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo thừa nhận Bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là đúng tội danh, đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện, không oan. Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận đối với Luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo thể hiện ăn năn, hối hận về việc làm của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, các bị cáo, Kiểm sát viên tham gia phiên toà đều đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận, ngày 23-11-2023, tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn:
Bị cáo Lý Hải Đ có lời nói lăng mạ, xúc phạm, chửi bới, có hành vi dùng tay và điếu cày đánh Hoàng Văn G gây thương tích 02%. Bị cáo Lý Văn T có lời nói lăng mạ, xúc phạm, chửi bới và dùng cốc thuỷ tinh ném trúng đầu Lý Hải Đ gây thương tích. Hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo Lý Văn T, Lý Hải Đ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo Lý Văn T, Lý Hải Đ đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, có đủ căn cứ kết án các bị cáo Lý Văn T, Lý Hải Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có đủ năng lực nhận thức hành vi gây rối trật tự công cộng là vi phạm pháp luật. Nhưng các bị cáo vẫn bất chấp, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý Hải Đ không có. Bị cáo Lý Văn T đã bị kết án tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 18-3-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” chưa được xoá án tích. Bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội mới nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, bị cáo Lý Văn T bị áp dụng tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định của điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Các bị cáo đều ra đầu thú. Do đó, các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo Lý Văn T đã bị kết án và có tiền án. Bị cáo Lý Hải Đ đã bị kết án, đã bị xử phạt vi phạm hành chính và đều đã được xoá tiền án, tiền sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù và buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Chiếc điếu cày bị thu giữ trong vụ án là tài sản của ông Hoàng Anh T1. Ông Hoàng Anh T1 không yêu cầu được trả lại chiếc điếu cày nên đã từ bỏ quyền sở hữu đối với chiếc điếu cày. Ngoài ra, chiếc điều cày và nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ không còn giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ông Hoàng Anh T1 từ bỏ quyền sở hữu đối với 01 (một) chiếc điếu cày theo quy định của Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do chiếc điếu cày, nhiều mảnh huỷ tinh bị vỡ không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu, tiêu huỷ theo quy định.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Hành vi phạm tội của Hoàng Văn G đã được xử lý theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không phải xem xét, xử lý.
Hoàng Văn G không yêu cầu xử lý hình sự đối với Lý Hải Đ về việc bị Lý Hải Đ gây thương tích 02%. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý hành vi này.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với bị cáo Lý Văn T.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với bị cáo Lý Hải Đ.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào Điều 30, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào Điều 239 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, nộp, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn T và Lý Hải Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Lý Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 12 tháng 3 năm 2025.
2.2. Xử phạt bị cáo Lý Hải Đ 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 01 tháng 4 năm 2025.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
3.1. Ghi nhận ông Hoàng Anh T1 đã tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với 01 (một) chiếc điếu cày dài 65cm, đường kính 05cm. Cụ thể: Ông Hoàng Anh T1 không yêu cầu được trả lại 01 (một) chiếc điếu cày dài 65cm, đường kính 05cm.
3.2. Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) chiếc điếu cày dài 65cm, đường kính 05cm. Nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ.
(Vật chứng trên được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Các bị cáo Lý Văn T và Lý Hải Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND Khu vực 1 - Lạng Sơn; - Phòng THADS Khu vực 1 - Lạng Sơn; - Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Văn Nghiệp |