vanban.org

Bản án 53/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C1, sửa bản án sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 11/4/2025 của của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai) giảm nhẹ 1 phần hình phạt đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024. Bị cáo Nguyễn Văn C1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C1, sửa bản án sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 11/4/2025 của của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai) giảm nhẹ 1 phần hình phạt đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-PT
Ngày: 11/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phùng Anh Dũng

Các Thẩm phán:

ông Phạm Tồn

bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quốc Lập, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, kiểm sát viên.

Vào ngày 11 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 246/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C1 về “Tội giết người” do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai).

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn C1, sinh ngày 26/3/1990 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã Hội Sơn, tỉnh Gia Lai); nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: cao đẳng; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T và bà: Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị Như H (sống ly thân), con: 01 người, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 09/01/2024. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C1: Luật sư Lê Thị Mai H1 - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư T2. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã Hội Sơn, tỉnh Gia Lai). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C1 và ông Nguyễn Hữu K có mối quan hệ là chú cháu trong dòng họ, hai bên không có mâu thuẫn gì với nhau. Tuy nhiên, giữa ông K với cha mẹ của C1 là ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị L có mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai từ trước. Vào ngày 26/10/2023, bà Phạm Thị C2 (là mẹ ruột của ông K) có nhờ ông K cùng một số người người trong thôn gồm: ông Hồ Văn K1 (có quan hệ họ hàng với cả ông K1 và ông T1), ông Trình Văn T1 (là con rể của bà C2, em rể của ông K1), ông Nguyễn P (có quan hệ họ hàng với cả ông K1 và ông T1) trồng cọc bê tông hàng rào lưới B40 để ngăn phần đất vườn giáp ranh với đất vườn của ông Nguyễn Thảnh . Vì cho rằng bà C2 và ông K1 làm hàng rào kiên cố trong khi đất giáp ranh còn đang tranh chấp, nên khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, ông T đến gặp ông K1 yêu cầu dừng lại, dẫn đến hai bên cãi nhau (có ông Hồ Văn K1, ông T1, ông P, bà C2, bà Nguyễn Thị L biết). Sau đó, bà L dẫn ông T đi về, còn ông K1 cùng nhóm thợ ngồi ăn cơm tại trước sân nhà bà C2. Sau khi về nhà, bà L gọi điện thoại nói với Nguyễn Văn C1: “Về xem thử sao chứ ông K1 đánh ba mày nằm bẹp rồi”. Nghe vậy, C1 liền điều khiển xe máy đi từ trang trại nuôi bò ở thôn H, xã C về nhà ở thôn Đ, nhưng khi về C1 thấy ông T vẫn bình thường chứ không như lời bà L gọi nói với C1. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C1 lấy ở nhà 01 cái rựa và 01 cây sắt dạng ống tuýp rỗng ruột (gọi là ống tuýp sắt) đi qua sân nhà bà C2 để gặp ông Nguyễn Hữu K hỏi chuyện (C1 cầm cây rựa trên tay phải và cầm ống tuýp sắt trên tay trái - Chí thuận tay trái). Đến nơi, C1 thấy ông K đang ngồi ăn cùng với ông P, ông T1 (riêng ông Hồ Văn K1 đã về trước đó), C1 hỏi ông K1: “Tại sao ông cứ đánh ba tôi hoài vậy?” thì ông K1 đứng dậy đi ra nói là hai bên chỉ cãi nhau chứ không có ai đánh ai. Mặc dù đã được mọi người ở đó giải thích nhưng C1 không chịu nghe mà còn nói: “Bữa nay tao giết mầy luôn”, rồi cầm ống tuýp sắt xông tới đánh ông K1. Ông K1 hoảng sợ bỏ chạy theo hướng Tây (theo hướng nhà của bà C2), rồi đổi hướng chạy ra phía Bắc thì bị vấp cây cuốc ở đống cát trộn hồ loạng choạng, Chí rượt theo dùng ống tuýp sắt đánh 02 cái trúng vào hai bên vùng hông, sườn của ông K1. Ông K1 tiếp tục đổi hướng chạy về phía Tây vào đám dừa thì Chí rượt theo sau đánh tiếp 03 cái trúng vào hai bên vùng hông, sườn của ông K1, làm ông K1 phải bỏ chạy tiếp bị vấp tàu dừa ngã xuống đất. Khi ông K1 vừa đứng dậy thì C1 cũng vừa chạy đến đứng đối diện với ông K1 cầm ống tuýp sắt đánh liên tiếp 04 cái theo hướng từ trên xuống vào vùng đầu ông K1; ông K1 đưa hai tay lên che đỡ vùng đầu thì bị ống tuýp sắt đánh trúng vào vùng cánh tay, cẳng tay trái. Bị đánh đau nên ông K1 bỏ tay xuống thì C1 tiếp tục cầm ống tuýp sắt đánh mạnh 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào đỉnh đầu bên trái của ông K1 làm rách da đầu. Thấy đầu ông K1 chảy nhiều máu và nghe ông K1 kêu lên: “Chết tao rồi Chí ơi”, đồng thời ông P, ông T1 và bà C2 chạy đến la lớn can ngăn thì C1 mới dừng tay lại. Sau đó, ông T1 dẫn ông K1 vào giếng rửa vết thương, ông K1 nói với ông T1: “Tao với mày giết nó (C1) luôn cho rồi”, nhưng ông T1 khuyên can rồi cùng mọi người đưa ông K1 đi băng bó vết thương. Lúc này, Chí đứng gần đó nghe được lời của ông K1 nói với ông T1 nên hăm dọa: “Tối nay tao kêu xã hội đen lên nhà đánh mầy tiếp”. Nghe vậy, ông P khuyên bảo C1 đi về nên C1 cầm ông tuýp sắt và cây rựa về nhà. Sau đó, ông K1 được người thân trong gia đình đưa đến Công an xã C báo cáo, rồi đưa đền Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu và điều trị đến ngày 27/10/2024 thì xuất viện. Do vết thương gãy xương cẳng tay trái bị nhiễm trùng nên ông K1 tiếp tục đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị 02 lần (lần 1: từ ngày 27/10/2024 đến ngày 07/11/2024; lần 2: từ ngày 06/12/2023 đến ngày 20/12/2023) và đến Bệnh viện D điều trị thêm 03 lần nữa (lần 1: từ ngày 20/12/2023 đến ngày 03/01/2024; lần 2: từ ngày 10/01/2024 đến ngày 26/01/2024; lần 3: từ ngày 25/4/2024 đến ngày 07/05/2024); hiện vết thương cẳng tay trái vẫn chưa bình phục.

Tại Bản kết luận giám định số 368/2023/KLTTCT-PYBĐ ngày 18/12/2023, Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu K tại thời điểm giám định là 21%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 11/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai) quyết định:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; căn cứ vào Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 592 của Bộ luật dân sự; căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội “Giết người”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, bị cáo Nguyễn Văn C1 phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Hữu K số tiền 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và công bố quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/4/2025 bị cáo Nguyễn Văn C1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và giảm phần bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có tình tiết mới là đã bồi thường 190 triệu cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ đối với bị cáo vì cho rằng giữa bị cáo và người bị hại có mâu thuẫn với nhau trước đó nên bị cáo bức xúc xâm gây thương tích cho nạn nhân, áp dụng khoản 2 điều 123 đối với bị cáo.

- Kiểm sát viên đại diện cho Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác, được thu thập có tại hồ sơ vụ án; do đó, có đủ cơ sở kết luận: xuất phát từ mâu thuẫn tranh chấp đất đai giữa bị hại Nguyễn Hữu K với ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị L (là cha, mẹ của bị cáo), nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/10/2023, tại nhà bà Phạm Thị C2 bị cáo Nguyễn Văn C1 đã có hành vi sử dụng ống tuýp sắt rượt đuổi đánh liên tiếp nhiều cái vào hai bên vùng hông, sườn của bị hại K, làm bị hại K ngã xuống đất. Khi bị hại K vừa đứng dậy thì bị cáo C1 cùng vừa chạy đến đứng đối diện với bị hại K là tiếp tục đánh liên tiếp theo hướng từ trên xuống vào vùng đầu bị hại K, bị hại K đưa hai tay lên che đỡ vùng đầu thì bị ống tuýp đánh trúng vào cẳng tay trái làm gãy tay. Bị đánh đau nên bị hại K bỏ tay xuống thì bị cáo C1 tiếp tục cầm ống tuýp sắt đánh mạnh 01 cái trúng vào đỉnh đầu bên trái của bị hại K; hậu quả gây tổn thương cơ thể bị hại với tổng tỷ lệ thương tích là 21%.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ từ việc mâu thuẫn tranh chấp đất đai giữa bị hại Nguyễn Hữu K với cha, mẹ của bị cáo trước đó, đây chỉ là mâu thuẫn nhỏ, có nhiều cách xử sự khác nhau, nhưng bị cáo đã dùng ống tuýp sắt đánh vào nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể của bị hại thể hiện sự côn đồ hung hãn, trong đó bị cáo tấn công vào vùng trọng yếu của cơ thể con người (vùng đỉnh đầu). Hành vi phạm tội của bị cáo là liên tục, quyết liệt, thể hiện ý chí tước đoạt tính mạng của bị hại, việc bị hại không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo vì được đưa đi cấp cứu, điều trị kịp thời. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo phạm “Tội giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, thấy:

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C1 phạm vào “Tội giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra; đồng thời, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại; hậu quả người bị hại không chết; bị cáo từng tham gia nghĩa vụ Công an, bà nội bị cáo là mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ bị cáo là người bị khuyết tật nặng được trợ cấp xã hội hàng tháng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xem xét quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt, theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt Nguyễn Văn C1 08 năm tù về “Tội giết người” là tương xứng với hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, có tình tiết giảm nhẹ mới là bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một hình phạt cho bị cáo.

. Phần trách nhiệm dân sự : Bị cáo đã bồi thường xong và người bị hại không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

. Do được chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo Nguyễn Văn C1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C1, sửa bản án sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 11/4/2025 của của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai) giảm nhẹ 1 phần hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 592 của Bộ luật Dân sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.

2. Bị cáo Nguyễn Văn C1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ