vanban.org

Bản án 53/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 27/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân Th phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Ngô Xuân Th 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm 09 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 225/2023/HSST ngày 26/9/2023 Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Buộc Ngô Xuân Th chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Xuân Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân Th phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HSST
Ngày 27/02/2024
nh©n danh

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hải Yến

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 351/2023/HSST ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 411/2023/QĐXXST-HS ngày 26/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Ngô Xuân Th, sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: Thôn Đại Lộc Trung, xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Ngô Văn O- đã chết; con bà Nguyễn Thị Q - sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Danh, chỉ bản số 806 lập ngày 03/10/2023 tại Công an quận Hà Đông;

Tiền án: Không; Tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 28/12/2007, Uỷ ban nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ra Quyết định số 01 đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Ngày 16/8/2010, Uỷ ban nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ra Quyết định số 05 đưa vào Trường giáo dưỡng 12 tháng về hành vi Mượn tài sản của người khác đi cầm cố để lấy tiền tiêu sài.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 330/2017/HSST ngày 27/10/2017, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 28/3/2018.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 324/2019/HSST ngày 26/11/2019, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 15/3/2021.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 225/2023/HSST ngày 26/9/2023 Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng Trữ trái phép chất ma tuý.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trạm giam Thanh Lâm của Bản án hình sự sơ thẩm số 324/2019/HSST ngày 26/11/2019. Có mặt.

Người bị hại: Anh Nguyễn D, sinh năm 1989 và chị La Thị Kim Nh, sinh năm 1987; Địa chỉ: số 287, đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Có mặt chị Nhung, vắng mặt anh Doan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Ngô Xuân Th và chị La Thị Kim Nh (sinh năm 1987, trú tại thôn An Lỗ, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) là bạn bè quen biết với nhau.

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 27/7/2018, Ngô Xuân Th đến phòng trọ của chị La Thị Kim Nh tại ở số 287, đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội để chơi và xin cơm ăn. Khi thấy Th đến, chị Nh đang bán hàng ở ngoài sân bảo Th vào nhà tự lấy cơm ăn, Th đi vào trong nhà thì gặp anh Nguyễn D (sinh năm 1989, trú tại xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - là chồng chị N). Tại đây, Th lấy cơm ra để ăn và ngồi nói chuyện với anh D được một lúc thì anh D lên giường đi ngủ, còn Th tiếp tục ngồi ăn cơm. Trong lúc ăn cơm, Th quan sát thấy chìa khoá xe máy của anh D treo trên tường nên đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 75C1-245.42 của anh D dựng ở ngoài để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Lợi dụng lúc anh D đang ngủ, Th liền lấy chiếc chìa khoá xe máy cất giấu trong người rồi tiếp tục ngồi ăn cơm. Lúc này, do trời mưa chị Nh đi vào trong nhà thì thấy Th vẫn đang ngồi ăn cơm, Th ăn cơm xong không nói gì liền đi ra ngoài đến vị trí chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 75C1-245.42 của anh D đang dựng ở ngoài, lúc này khoảng 14 giờ cùng ngày Th quan sát không thấy ai liền cắm chiếc chìa khoá xe máy đã lấy lúc trước vào xe, Th mở khoá điện rồi lén lút dắt xe ra ngoài khu vực đường Thanh Bình, sau đó Th nổ máy điều khiển xe bỏ về quê ở xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định cầm cố chiếc xe trên cho một người không quen biết được 4.000.000 đồng, Th đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện Th lấy trộm chiếc xe máy trên, chị Nh đã liên hệ với Th để đòi lại chiếc xe, Th khất lần sẽ mang xe về trả, đồng thời bảo chị Nh chuyển 4.000.000 đồng cho Th để chuộc xe về nhưng chị Nh không đồng ý. Sau đó, chị Nh tiếp tục liên hệ với Th để đòi xe nhưng không liên hệ được. Ngày 25/01/2019, chị Nh làm đơn trình báo sự việc và tố giác Ngô Xuân Th có hành vi Trộm cắp tài sản đến Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội để giải quyết theo quy định.

Tại Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐG ngày 24/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Hà Đông, kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn-xanh-trắng, BKS: 75C1-245.42, số máy 55P1489265, số khung 5P10EY489248, đã qua sử dung, chưa thu được tang vật, trị giá: 20.500.000 đồng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn-xanh-trắng, BKS: 75C1-245.42 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn D. Quá trình điều tra, Th khai sau khi lấy trộm chiếc xe máy trên đã cầm cố cho một người không quen biết ở xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ngoài lời khai của Th không có tài liệu nào khác nên không có cơ sở làm rõ người đã nhận cầm cố và thu hồi chiếc xe máy trên của anh . Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng và đăng báo truy tìm người đã nhận cầm cố chiếc xe máy của anh D, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền chị La Thị Kim Nh yêu cầu Ngô Xuân Th bồi thường số tiền 20.500.000 đồng giá trị chiếc máy trên chưa thu hồi được.

Tại Cáo trạng số 402/CT-VKS-HĐ ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Ngô Xuân Th về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá hành vi phạm tội, mức độ, vai trò phạm tội các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú) của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Xử phạt Ngô Xuân Th từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt tù 02 năm 09 tháng tù của bản án hình sự số 225/2023/HSST ngày 26/9/2023 Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nh anh D số tiền 20.500.000 đồng.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

: Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 00 ngày 27/7/2018, tại phòng trọ của vợ chồng chị La Thị Kim Nh và anh Nguyễn D địa chỉ số 287, đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong lúc ngồi ăn cơm ở phòng trọ, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của vợ chồng chị Nh, bị cáo đã lấy chìa khoá xe máy cất dấu trong người, lén lút chiếm đoạt chiếc máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn-xanh-trắng, BKS: 75C1-245.42, đã qua sử dung của vợ chồng chị Nh. Kết luận của Hội đồng định giá kết luận trị giá chiếc xe trên là 20.500.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt Hội đồng xem xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản, về tội ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện thay đổi bản thân thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội lần này của của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo yên tâm cải tạo.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo hiện đang chấp hành án nên không có khả năng về kinh tế xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Do xe máy chưa thu hồi được nên yêu cầu của bị hại buộc bị cáo buồi thường giá trị xe máy là 20.500.000 đồng là có căn cứ. Do đó buộc bị cáo Th phải bồi thường cho anh Nguyễn D và chị La Thị Kim Nh số tiền 20.500.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân Th phạm tội Trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Xuân Th 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm 09 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 225/2023/HSST ngày 26/9/2023 Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Buộc Ngô Xuân Th chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Ngô Xuân Th phải bồi thường cho anh Nguyễn D và chị La Thị Kim Nh số tiền 20.500.000 đồng.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.025.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình

sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án, Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu thi hành án có Đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. N¬i nhËn:

Cỡ chữ