vanban.org

Bản án 53/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 31/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bàn Dào H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Bàn Dào H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 13/10/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bản thi hành án. Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Dào H và đồng bọn - Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bàn Dào H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________
Bản án số: 53/2024/HSST
Ngày 31/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Toán và bà Lê Thị Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Bàn Dào H, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn T, xã Th, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao đỏ; Tôn giáo: Không; Con ông Bàn Vần V và con bà Bàn Mùi Nh; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Lục Mùi L, sinh năm 1994; Bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1999; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Ph và con bà Trương Thị Q; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Võ Thị H, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2017, Nguyễn Văn T bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.750.000đ về hành vi “Cầm cố tài sản (xe máy) mà theo quy định giấy tờ đó phải có giấy tờ sở hữu nhưng không có các loại giấy tờ đó theo vi phạm vào điểm d, mục 2, Điều 11 Nghị định 167/NĐ – CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ. T đã chấp hành xong từ tháng 11/2017.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2023 đến ngày 23/10/2023. Hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa

* Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn Hải – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh

* Người bị hại:

1. Anh Vàng Láo L, sinh năm 2004 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Tr, xã Ph, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

Hiện trú tại: Khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

2. Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Kh, xã Ng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Hiện trú tại: Khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

3. Anh Hạ Mí L, sinh năm 2003 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Bản Th, xã D, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang

Hiện trú tại: Khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phạm Văn D, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố a, thị trấn T, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

Hiện trú tại: SN a Sơn Đông, phường N, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc

Ninh.

2. Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

3. Chị Võ Thị H, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bàn Dào H là công nhân công ty SeiYo thuộc KCN Quế Võ I, đang thuê trọ tại nhà anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1962 ở khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 12/9/2023 đến 07/10/2023 H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thị xã Quế Võ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 12/9/2023, H đi bộ một mình quanh khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ mục đích trộm cắp xe mô tô. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H thấy khu trọ nhà anh Nguyễn Văn Quyết, sinh năm 1995 ở Khu phố Do Nha đang mở cổng, bên trong có nhiều xe mô tô nên H đi vào trong thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 24B3 - 139.39, số khung RLHJA3920MY444283; số máy JA39E2469467 của anh Vàng Láo L, sinh năm 2004, HKTT: Thôn Tr, xã Ph, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai không khoá cổ, khóa càng. H đi đến vị trí chiếc xe dùng tay phải luồn vào trong yếm trước rút hộp điện của xe rồi đấu điện trực tiếp thì mở được khóa điện của xe. Sau đó, H dắt xe ra ngoài cổng ngồi lên xe đề nổ rồi đi về phòng trọ của H. Tại đây, H dùng cà lê tháo BKS: 24B3 - 139.39 ra, giấu xe máy ở khu vực nhà xe của dãy trọ. Sau đó, H sử dụng điện thoại, dùng tài khoản Facebook tên “Lơ Lẳng” của H đăng thông tin với nội dung “cần bán xe Wave 2019 không giấy tờ” trong hội nhóm “Mua bán xe KGT (Giao dịch trực tiếp) miền bắc” thì Nguyễn Văn T, sinh năm 2004, HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh dùng ứng dụng Messenger nhắn tin tới với nội dung “wave 2019 đâu, cho mình xem ảnh với”. Sau đó H với T kết bạn trong ứng dụng Zalo để liên lạc, khi được H cho xem hình ảnh chiếc xe máy và nói xe máy không có giấy tờ, không có chìa khóa và bán với giá 3.700.000 đồng, T đồng ý mua rồi bảo H “cứ để đến lúc xem xe rồi tính”. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/9/2023, T đi xe ôm tới khu vực ngã tư gần cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh để gặp H giao dịch mua, bán xe. Sau khi kiểm tra thấy xe mô tô còn mới, không có giấy tờ, không có chìa khóa, đang đấu công tắc điện, loại biển 4 số, đã cũ. T nghĩ là biển xe máy giả nên hỏi H “xe của anh mua hay nhảy ở đâu”, H không nói gì, đồng thời cầm số tiền 3.700.000 đồng bỏ đi. Khi đã mua được xe máy thì T mang tới một cửa hàng sửa chữa xe máy không quen biết để thay ổ khoá điện, khóa cốp của xe hết 350.000 đồng. Số tiền có từ việc bán xe máy H đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

Đến ngày 29/9/2023, T dùng tài khoản Facebook tên “Tu Nguyen” đăng thông tin trong hội nhóm mua bán xe máy KGT với nội dung “cần bán xe Wave 2023, giá 7.500.000 đồng” thì Phạm Văn D, sinh năm 1995, HKTT: Tổ dân phố 3, thị trấn Tây Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh dùng ứng dụng Messenger tên “Văn Dũng” nhắn tin tới với nội dung “xe màu gì vậy, xem xe ở đâu” để giao dịch. Đến 19 giờ ngày 02/10/2023, T điều khiển xe Honda Wave màu trắng đen bạc, không lắp BKS, số khung RLHJA3920MY444283; số máy JA39E2469467 tới chân cầu vượt KCN Yên Phong để gặp Dũng. Thấy T nói xe máy mua trả góp thiếu tiền nên không lấy được giấy tờ, không có nhu cầu sử dụng muốn bán thì Dũng đồng ý và chuyển 6.800.000 đồng vào tài khoản Viettinbank số 106874703215 tên VO THI HUONG của chị Võ Thị H, sinh năm 1995, HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (vợ của T). Số tiền có được từ việc bán xe máy T đã rút ra và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 14/10/2023, anh L trình báo Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ về việc bị kẻ gian trộm cắp mất xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng đen bạc, BKS: 24B3-139.39 số khung RLHJA3920MY444283; số máy JA39E2469467 như đã nêu ở trên.

Ngày 14/10/2023, anh Dũng đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ giao nộp 01 xe mô tô Honda Wave màu trắng đen bạc, không lắp BKS, số khung RLHJA3920MY444283; số máy JA39E2469467.

Tại Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, BKS: 24B3-139.39 số khung RLHJA3920MY444283; số máy JA39E2469467 tại thời điểm định giá trị giá 14.000.000 đồng”.

Vụ thứ hai: Với phương thức và thủ đoạn như trên, khoảng 13 giờ 45 phút ngày 23/9/2023, tại khu trọ nhà anh Nguyễn Văn Quyết, sinh năm 1995 ở khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, H tiếp tục trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh đen bạc, BKS: 98B3-050.44 số khung: 3906HY247221, số máy: JA39E0247256 của anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1994, HKTT: Thôn Kh, xã Ng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, H dùng cờ lê tháo BKS: 98B3-050.44 và lắp BKS: 24B3-139.39 vào rồi nhắn tin qua zalo cho T hỏi “có mua xe không?” thì T đồng ý và hỏi đặc điểm chiếc xe mà H muốn bán. H gửi hình ảnh chiếc xe mô tô cho T xem và nói giá bán là 4.700.000 đồng và nói xe không có chìa khóa, giấy tờ trong cốp, sau đó cả hai thỏa thuận thống nhất giá bán và hẹn gặp nhau tại khu vực ngã tư gần cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh để giao dịch. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T đi xe ôm tới khu vực như đã hẹn gặp H để xem xe. Thấy xe có 2 biển số, trong đó giấy tờ xe trùng với số khung, số máy và BKS: 98B3

- 050.44 để trong túi bóng, kẹp ở sườn xe, còn xe đang lắp BKS 24B3 - 139.39 thì T biết đó là xe do H trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng, số tiền trên H đã sử dụng vào việc tiêu sài cá nhân hết. Sau khi mua được xe thì T ra cửa hàng thay ổ khóa và nhờ lắp lại BKS: 98B3 - 050.44 vào xe để sử dụng.

Ngày 14/10/2023 anh Tr trình báo Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ về việc bị kẻ gian trộm cắp mất xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 98B3-050.44, số khung: 3906HY247221, số máy: JA39E0247256 như đã nêu ở trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐ ĐGTS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, số loại: Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 98B3-050.44, số khung: 3906HY247221, số máy: JA39E0247256 tại thời điểm định giá trị giá 9.500.000 đồng”.

Vụ thứ ba: Khoảng 21 giờ ngày 06/10/2023, H mang theo ba chiếc cà lê đi vào trong khu trọ nhà chị Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1988 ở khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh với mục đích trộm cắp tài sản. Tại tầng hai, thấy phòng trọ của anh Hạ Mí L, sinh năm 2003, HKTT: Bản Th, xã D, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đang khóa, H sử dụng ba chiếc cà lê thao tác cậy, phá và mở được ổ khóa và mở cửa đi vào trong. Kiểm tra trong phòng không phát hiện tài sản gì có giá trị, thấy chiếc chìa khóa xe mô tô có chữ Honda để trong hộp giấy dưới nền nhà (H biết là chìa khóa của xe Honda Winner) nên cầm theo rồi đi xuống khu vực để xe. Do không thấy chiếc xe máy Honda Winner nào nên H mang chìa khóa về phòng trọ. Đến khoảng 17 giờ ngày 07/10/2023, H mang theo chìa khóa xe đã lấy được đi bộ tới khu trọ nhà chị Nguyệt. Thấy cổng đang mở, H đi vào trong khu vực nhà xe, phát hiện có nhiều xe mô tô, trong đó có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu đen đỏ, BKS: 23B1 - 690.78 của anh Lử đang khóa cổ, không khóa càng, H sử dụng chìa khóa cắm vào, mở được khóa điện, đèn xe sáng. Sau đó, H dắt xe máy ra cổng, ngồi lên xe nổ máy đi về phòng trọ, dùng cà lê tháo biển số cất tại gầm giường và giấu xe tại nhà xe.

Ngày 13/10/2023, anh Lử trình báo Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ về việc bị kẻ gian trộm cắp mất xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu đen đỏ, BKS: 23B1 - 690.78, số khung: RLHKC3704MY113559, số máy: KC34E1254146.

Tại Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐ ĐGTS ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đen, màu đen, BKS: 23B1-690.78 số khung: RLHKC3704MY113559, số máy: KC34E1254146 tại thời điểm định giá trị giá 28.500.000 đồng”.

Ngày 13/10/2023, Bàn Dào H đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đầu thú về hành vi trộm cắp xe mô tô ngày 07/10/2023. Nguyễn Văn T đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Quá trình đầu thú Bàn Dào H giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ, số imei: 355346085509030; Nguyễn Văn T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, số Imei: 356739082071211.

Ngày 13/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Bàn Dào H thuê tại khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, số khung: RLHKC3704MY113559, số máy: KC34E1254146; 01 BKS: 23B1 - 690.78; 01 công tắc; 01 ô màu xanh; 01 cà lê loại 17-19 bên ngoài bọc giấy bóng màu đỏ; 01 cà lê loại 14 bên ngoài bọc giấy bóng màu trắng; 01 cà lê loại 8; 01 cà lê loại 10-14; 01 tô vít loại bốn cạnh, phần tay cầm mầu đen; 01 sợi dây điện màu vàng bọc quấn màu đỏ, một đầu nối với kẹp bằng kim loại dài 39cm; 01 sợi dây điện màu vàng dài 33 cm.

Ngày 14/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại Thôn C, xã Đ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, số khung: 3906HY247221, số máy: JA39E0247256; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy BKS: 89B3 - 050.44 tên chủ xe Nguyễn Thị Hoa; 01 BKS: 24B3 - 139.39; 01 gương xe mô tô.

* Xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, BKS: 23B1

- 690.78, số khung: RLHKC3704MY113559, số máy: KC34E1254146 quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Hạ Mí L. Ngày 26/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại cho anh Lử, anh Lử đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 98B3 - 050.44, số khung: 3906HY247221, số máy: JA39E0247256 cùng giấy đăng ký xe quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn Tr. Ngày 20/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại cho anh Tr, anh Tr đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 24B3 - 139.39, số khung: RLHJA3920MY444283, số máy: JA39E2469467 quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Vàng Láo L. Ngày 26/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại cho anh L, anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

* Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, T đã tác động đến bố đẻ là ông Nguyễn Văn Ph bồi thường cho anh Phạm Văn D số tiền 6.800.000 đồng. Anh Phòng đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm. Đối với số tiền ông Phòng bồi thường cho T, ông không yêu cầu T phải trả lại.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ, Bàn Dào H và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 06/CT -VKSQV ngày 15/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Bàn Dào H phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Bàn Dào H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Bàn Dào H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Truy thu của bị cáo Bàn Dào H số tiền 6.700.000đ sung ngân sách nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: 01 công tắc; 01 ô màu xanh; 01 cà lê loại 17-19 bên ngoài bọc giấy bóng màu đỏ; 01 cà lê loại 14 bên ngoài bọc giấy bóng màu trắng; 01 cà lê loại 8; 01 Cà lê loại 10-14; 01 tô vít loại 4 cạnh; 01 sợi dây điện màu bọc quấn màu đỏ; 01 sợi dây điện màu vàng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiều Iphone 7 plus màu đỏ; 01 điện thoại di động Iphone X màu đen đều đã qua sử dụng.

Lưu giữ theo hồ sơ 01 đĩa DVD lưu trữ hình ảnh bị cáo Bàn Dào H thực hiện hành vi trộm cắp.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bàn Dào H.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Bàn Dào H:

Tôi nhận thấy nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu. Sau khi phạm tội, bị cáo đã có ý thức đến cơ quan Công an đầu thú. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo lại thuộc hộ nghèo của địa phương nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo là lao động chính trong gia đình và hiện có 02 con nhỏ cần nuôi dưỡng và chăm sóc. Do đó, tôi đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với xã hội giúp đỡ gia đình, người thân. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 12, Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí cho bị cáo Bàn Dào H.

Các bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 12/9/2023 đến 07/10/2023, Bàn Dào H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Quế Võ để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 12/9/2023 tại khu nhà trọ của anh Nguyễn Văn Quyết, sinh năm 1995 ở khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Bàn Dào H có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, BKS: 24B3 - 139.39 trị giá 14.000.000 đồng của anh Vàng Láo L, sau đó H liên hệ bán chiếc xe cho Nguyễn Văn T, T không hứa hẹn trước nhưng khi biết chiếc xe là tài sản trộm cắp vẫn đồng ý mua với giá 3.700.000 đồng sau đó bán lại cho anh Phạm Văn D lấy số tiền 6.800.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán xe H, T đã tiêu sài cá nhân hết. Hiện chiếc xe đã được thu hồi trả lại cho người bị hại.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 23/9/2023 tại khu nhà trọ của anh Nguyễn Văn Quyết, Bàn Dào H có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh đen bạc, BKS: 98B3-050.44 trị giá 9.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn Tr. Sau đó, H liên hệ bán chiếc xe cho Nguyễn Văn T, T không hứa hẹn trước nhưng khi biết chiếc xe là tài sản trộm cắp vẫn đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán xe H đã tiêu sài cá nhân hết. Hiện chiếc xe đã được thu hồi trả lại cho người bị hại.

Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 07/10/2023, tại khu trọ nhà chị Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1988 ở khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Bàn Dào H có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu đen đỏ, BKS: 23B1 - 690.78 trị giá 28.500.000 đồng của anh Hạ Mí L. Hiện tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại.

Như vậy, Bàn Dào H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp với tổng trị giá tài sản là 52.000.000 đồng. T không hứa hẹn trước nhưng biết rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, BKS: 24B3 - 139.39 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh đen bạc, BKS: 98B3-050.44 là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tổng trị giá tài sản là 23.500.000 đồng.

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, tang vật thu giữ được cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận Bàn Dào H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Lợi dụng sơ hở của bị hại, bị cáo Bàn Dào H đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe Wave alpha, màu trắng đen bạc, BKS: 24B3 - 139.39; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh đen bạc, BKS: 98B3-050.44; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu đen đỏ, BKS: 23B1 - 690.78 với tổng giá trị là 52.000.000đ. Chỉ vì muốn có tiền tiêu sài cá nhân mà không phải lao động mà bị cáo Bàn Dào H bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp gây bức xúc trong quần chúng nhân dân trên địa bàn và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần thiết phải xét xử bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thơi gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo, giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T, dù không có hứa hẹn trước nhưng khi biết tài sản H bán cho là tài sản do hành vi phạm tội mà có nhưng vẫn cố tình mua nhằm mục đích bán lại kiếm lời.

Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là độc lập, không có sự trao đổi, thỏa thuận và bàn bạc từ trước nên không mang tính chất đồng phạm.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bàn Dào H đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản. Giá trị mỗi lần trộm cắp đều trên 2.000.000đ. Bị cáo Nguyễn Văn T đã 02 lần thực hiện việc mua bán xe với H và tội phạm đều đã được hoàn thành nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi thực hiện các bị cáo đã đến Cơ quan công an đầu thú và thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp phương tiện, công cụ phạm tội. Ngoài ra, các bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi đầu thú, bị cáo T đã tác động đến gia đình để trả cho anh Dũng số tiền 6.800.000đ. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử cân nhắc để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn T có 02 tính tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình và có 02 con nhỏ. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/QN-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/ NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xét bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo, xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Các bị cáo không có tài sản tích lũy. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận được tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Đối với số tiền 6.800.000đ ông Phòng tự nguyện trả anh Dũng thay T và không đề nghị T phải trả lại. Do đó, về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết là phù hợp.

Về vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ của Bàn Dào H; 01 chiếc điện thoại di động Iphone X màu đen của Nguyễn Văn T là phương tiện các bị cáo liên lạc để giao dịch mua bán tài sản trộm cắp nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 công tắc; 01 ô màu xanh; 01 cà lê loại 17-19 bên ngoài bọc giấy bóng màu đỏ; 01 cà lê loại 14 bên ngoài bọc giấy bóng màu trắng; 01 cà lê loại 8; 01 Cà lê loại 10-14; 01 tô vít loại 4 cạnh; 01 sợi dây điện màu bọc quấn màu đỏ; 01 sợi dây điện màu vàng là công cụ để bị cáo Bàn Dào H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với việc H bán cho T 02 chiếc xe mô tô được số tiền 6.700.000đ. Số tiền này có được từ việc vi phạm pháp luật mà có nên cần buộc Bàn Dào H giao nộp để sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh Bàn Dào H thực hiện hành vi trộm cắp cầnđược lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với anh Nguyễn Văn S là chủ khu trọ của H. Quá trình điều tra xác định anh S không biết H cất dấu xe trộm cắp tại khu trọ của mình nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xem xét xử lý đối với Sáng là phù hợp.

Đối với anh Phạm Văn D là người đã mua chiếc xe của T ngày 13/9/2023. Quá trình điều tra xác định anh Dũng không biết chiếc xe trên là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xử lý mà nhắc nhở đối với anh Dũng là phù hợp.

Đối với chị Võ Thị H (vợ của T) khi cho T sử dụng tài khoản ngân hàng, không biết T sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bàn Dào H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bàn Dào H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Bàn Dào H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 13/10/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bản thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã Đông Tiến giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo T phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Truy thu của bị cáo Bàn Dào H số tiền 6.700.000đ sung ngân sách nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: 01 công tắc; 01 ô màu xanh; 01 cà lê loại 17-19 bên ngoài bọc giấy bóng màu đỏ; 01 cà lê loại 14 bên ngoài bọc giấy bóng màu trắng; 01 cà lê loại 8; 01 Cà lê loại 10-14; 01 tô vít loại 4 cạnh, phần tay cầm màu đen; 01 sợi dây điện màu bọc quấn màu đỏ; 01 sợi dây điện màu vàng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiều Iphone 7 plus màu đỏ; 01 điện thoại di động Iphone X màu đen đều đã qua sử dụng.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng số 36 ngày 12/01/2024 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh Bàn Dào H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Miễn án phí HSST cho bị cáo Bàn Dào H

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc niêm yết bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ