- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Anh Đ"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Anh Đ đối với anh Nguyễn Văn Ch.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ ĐIỆN BÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày 17/4/2024. V/v “ Yêu cầu Ly hôn và giải quyết con Ch”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Phước Sáu
2/ Ông Nguyễn Lương Thành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa có: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn có: Bà Đinh Thị Thu Hoà – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án DSST thụ lý số: 330/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023, về việc “Yêu cầu Ly hôn và giải quyết con Ch”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/3/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Anh Đ - Sinh năm: 1987 (có mặt).
+ Địa chỉ: Khối phố Ng H, phường Đ Ng, thị xã Đ B, tỉnh Q N.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ch - Sinh năm: 1995 (vắng mặt).
+ Địa chỉ: Thôn H N T, xã Đ Ph, thị xã Đ B, tỉnh Q N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 11/8/2023, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh Đ trình bày: Chị Nguyễn Thị Anh Đ và anh Nguyễn Văn Ch kết hôn vào ngày 19/3/2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng Ch sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói Ch dẫn đến cuộc sống luôn căng thẳng nên từ đầu năm 2023 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Anh Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không có hạnh phúc, nên yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn Ch.
Về con Ch: Chị Nguyễn Thị Anh Đ khai vợ chồng có 01 con Ch là Nguyễn Văn Anh T, sinh ngày 18/9/2019 hiện nay đang Ch sống cùng chị Đ. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Anh Đ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con Ch đến đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Nguyễn Văn Ch cấp dưỡng nuôi con Ch.
Về tài sản Ch và nợ Ch: Chị Nguyễn Thị Anh Đ khai không có.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Ch: Từ khi Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn thụ lý vụ án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Ch không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương nơi anh Nguyễn Văn Ch đang sinh sống niêm yết văn bản tố tụng để giải quyết vụ án theo thủ tục Ch. Do đó, không có lời khai của anh Nguyễn Văn Ch trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh Đ đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Luật tố tụng. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Ch vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, TAND thị xã Điện Bàn đưa ra xét xử sơ thẩm vào ngày hôm nay theo thủ tục Ch là đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX cho chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn Ch.
- Về con Ch: Giao con Nguyễn Văn Anh T, sinh ngày 18/9/2019 cho chị Nguyễn Thị Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị Anh Đ không yêu cầu anh Nguyễn Văn Ch cấp dưỡng nuôi con Ch.
- Về tài sản Ch và nợ Ch: Chị Nguyễn Thị Anh Đ khai không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn Hạ Nông Tây, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn.
Anh Nguyễn Văn Ch đã được Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Ch.
2] Xét các yêu cầu khởi kiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Anh Đ và anh Nguyễn Văn Ch có đăng ký kết hôn tại UBND phường Điện Ngọc vào năm 2019. Kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
- Về nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Nguyễn Thị Anh Đ khai nguyên nhân ly hôn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Năm 2022, chị Nguyễn Thị Anh Đ đã nộp đơn ly hôn anh Nguyễn Văn Ch nhưng đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ Ch sống nhưng mâu thuẫn của vợ chồng vẫn không được giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn Ch, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, đã tổ chức các phiên hòa giải nhưng anh Ch không đến tham gia, không có thiện chí mong muốn được đoàn tụ Ch sống. Do đó, xét thấy hôn nhân của vợ chồng chị Đ và anh Ch đã lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được hạnh phúc và cuộc sống Ch không còn tồn tại. Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ch.
3] Về con Ch: Chị Nguyễn Thị Anh Đ khai vợ chồng có 01 con Ch là Nguyễn Văn Anh T, sinh ngày 18/9/2019, hiện nay đang sống cùng chị Nguyễn Thị Anh Đ. Do anh Nguyễn Văn Ch không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh Ch về con Ch. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Anh Đ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con Ch đến đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con Ch. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu giải quyết về con Ch của chị Nguyễn Thị Anh Đ, giao con Ch là Nguyễn Văn Anh Tú cho chị Nguyễn Thị Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
- Về tài sản Ch và nợ: Chị Nguyễn Thị Anh Đ khai không có. Tuy nhiên, do chưa làm việc được với anh Nguyễn Văn Ch nên không xác định được tài sản Ch, nợ Ch của vợ chồng. Vì vậy, khi nào các đương sự có tranh chấp về tài sản Ch và nợ Ch thì giải quyết bằng vụ án khác.
5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu án phí DSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26, 28, 39 và Điều 227 BLTTDS; các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật HN&GĐ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Anh Đ đối với anh Nguyễn Văn Ch.
1] Về Hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn Ch.
2] Về con Ch: Giao con Nguyễn Văn Anh T, sinh ngày 18/9/2019 cho chị Nguyễn Thị Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị Anh Đ không yêu cầu anh Nguyễn Văn Ch cấp dưỡng nuôi con Ch.
Anh Nguyễn Văn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con Ch sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có lý do chính đáng, các bên có quyền thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con Ch.
3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu số 0000403 ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Chị Nguyễn Thị Anh Đ đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Những người TGTT ;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà
- Viện kiểm sát;
- Toà án Tỉnh;
- Thi hành án;
- Lưu hồ sơ .
- UBND phường Điện Ngọc
Nguyễn Văn Lộc
ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Những người TGTT ; - Viện kiểm sát; - Toà án Tỉnh; - Thi hành án; - Lưu hồ sơ . - UBND phường Điện Ngọc Các hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Lộc ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |