vanban.org

Bản án 53/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bùi Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Thủy T1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 cho bà Bùi Thị Tú T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/6/2017 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1, sinh ngày 18/3/2014 cho ông Nguyễn Thủy T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời các bên không phải đóng góp cho nhau tiền cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị Tú T - Ông Nguyễn Thủy T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bùi Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Thủy T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-4-2024.
V/v: “Ly hôn; tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Hoạch.

2. Ông Tạ Văn Đài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1119/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Tú T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thủy T1, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Bùi Thị Tú T trình bày:

Bà Bùi Thị Tú T và ông Nguyễn Thủy T1 tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/10/2013.

Quá trình sống chung của vợ chồng bình thường. Tuy nhiên thời gian gần đây vợ chồng thường có nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Vợ chồng thường xảy ra cãi vã, không tôn trọng nhau và có những lời nói xúc phạm đến danh dự lẫn nhau. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vẫn không giải quyết được, hiện nay bà và ông T1 đã không còn sống chung với nhau. Nay bà T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thủy T1.

Về con chung: Bà và ông T1 có 03 (ba) con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 30/8/2019; cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/6/2017 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1, sinh ngày 18/3/2014. Ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đăng K; đề nghị ông T1 nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1; tạm thời các bên không phải đóng góp cho nhau tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Thủy T1 vắng mặt:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1 tới trụ sở Tòa án để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông T1 đều vắng mặt và cũng không có trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Bùi Thị Tú T. Cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Thủy T1.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 cho bà Bùi Thị Tú T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/6/2017 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1, sinh ngày 18/3/2014 cho ông Nguyễn Thủy T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời các bên không phải đóng góp cho nhau tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T1 không có ý kiến trình bày nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Nợ chung: Bà T khai không có. Ông T1 không có ý kiến trình bày nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc bà T phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn bà Bùi Thị Tú T có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Thủy T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Tú T và ông Nguyễn Thủy T1 tự nguyện kết hôn với nhau năm 2013 và được Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà T xác định vợ chồng có mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, dẫn đến cãi vã xung đột không hòa giải được. Hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thủy T1. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ cho các bên nhưng bà T cương quyết ly hôn với ông T1; ông T1 không đến Tòa án để tham gia hòa giải, thể hiện sự không tích cực phối hợp trong việc giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng. Điều này chứng tỏ, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà T được chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 03 con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 30/8/2019, cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/6/2017 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1, sinh ngày 18/3/2014. Ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng K, giao cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1 cho ông Nguyễn Thủy T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1 đến Tòa án làm việc tuy nhiên ông T1 đều vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu tranh chấp về nuôi con của bà T. Hiện cháu K đang sống cùng với bà T; cháu Bảo A và cháu K1 đang sống cùng với ông T1. Cháu K1 cũng có nguyện được sống chung với ông T1. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/6/2017 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1, sinh ngày 18/3/2014 cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con, ông T1 cũng không có ý kiến trình bày nên tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Bùi Thị Tú T và ông Nguyễn Thủy T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông T1 không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

Về nợ chung: Bà T khai không có, ông T1 không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bùi Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Thủy T1.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 cho bà Bùi Thị Tú T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/6/2017 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật K1, sinh ngày 18/3/2014 cho ông Nguyễn Thủy T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời các bên không phải đóng góp cho nhau tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Bùi Thị Tú T và ông Nguyễn Thủy T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông T1 không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

4. Về nợ chung: Bà T khai không có, ông T1 không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Bùi Thị Tú T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0007809 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị Tú T, ông Nguyễn Thủy T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ