- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Mai Thế P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-3-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – B
Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Quốc Toàn
Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng
- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Như Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 29/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 554/2023/TLST –HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/02/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/3/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1995; địa chỉ: số 143/70, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh B (vắng có đơn).
2. Bị đơn: anh Mai Thế P, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện G, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày:
Chị và anh Mai Thế P tự nguyện kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh B vào ngày 19/3/2013. Trong quá trình chung sống, chị và anh P bất đồng quan điểm trong cách sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi với nhau. Chị đã nhiều lần cố gắng nhằm duy trì mối quan hệ vợ chồng, mong hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không đạt được. Do mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trở nên trầm trọng, không thể chung sống, hoà hợp trở lại, nếu tiếp tục chung sống sẽ gây thiệt hại cho cả hai bên nên chị và anh P đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay.
Nhận thấy hai bên bất đồng quan điểm sống gay gắt, mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm giữa vợ và chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh P. Con chung là Mai Chí T sinh ngày 31/3/2015 hiện ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Nợ chung không có.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Mai Thế P vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm N.
* Tại phiên tòa:
Chị Nguyễn Thị Cẩm N vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Anh Mai Thế P vắng mặt không lý do.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: sau khi nhận đơn khởi kiện; các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý; Tòa án đã tiến hành thủ tục thủ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng, đầy đủ các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án, không vi phạm về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn chị N đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn anh P không có ý kiến về việc giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Về nội dung: căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm N.
+ Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Mai Thế P.
+ Về con chung: giao cháu Mai Chí T sinh ngày 31/3/2015 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con, chị N có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
+ Về tài sản chung: chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
+ Về nợ chung: chị N khai không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục: tại phiên toà, nguyên đơn chị N vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn anh P mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: do chị N và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh B vào ngày 19/3/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh P là hợp pháp. Trong quá trình tố tụng, chị N trình bày do bất đồng quan điểm nên hai bên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên bất hòa và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai vẫn không thể hoà giải và hàn gắn. Hiện chị N xác định hai bên không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh P mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia các phiên hòa giải, không có văn bản thể hiện mong muốn hàn gắn với chị N và vắng mặt tại phiên tòa. Từ đó có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Mai Chí T sinh ngày 31/3/2015. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị N và anh P sống ly thân cho đến nay, cháu T do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định. Mặt khác, tại biên bản lấy ý kiến ngày 01/02/2024, cháu T có nguyện vọng ở với mẹ, anh P cũng không tranh chấp nuôi con. Do đó xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị N tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: chị N khai không có nên không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị N phải nộp số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Mai Thế P.
2/- Con chung: Mai Chí T sinh ngày 31/3/2015.
Giao cháu Mai Chí T sinh ngày 31/3/2015 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị N tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3/- Về tài sản chung: chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4/- Về nợ chung: chị N khai không có nên không xem xét giải quyết.
5/- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Nguyễn Thị Cẩm N phải nộp số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002569 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, án phí sơ thẩm, chị N đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Toàn
Nguyễn Thị Ngọc Phượng Đặng Thị Ngọc Duyên
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B - VKSND huyện; - Chi cục THA huyện; - UBND xã L, (C, B); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên |