- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Hà Thị Kim Loan - Bị đơn Đặng Văn Mãnh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Kim L. Buộc ông Đặng Văn M trả cho bà Hà Thị Kim L số tiền 34.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2024/DS-ST Ngày: 22-8-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Ksơr Aflai.
- Ông Trần Hữu Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST - DS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2024/QĐST-DS, ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Kim L, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Đặng Văn M, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Hà Thị Kim L trình bày:
Ngày 14/7/2023 ông Đặng Văn M có vay của bà Loan số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 01%/tháng, thời hạn vay đến 14/8/2023 sẽ trả hết nợ, đến hẹn trả nợ ông M không trả nợ như cam kết. Nay yêu cầu ông M trả số tiền 30.000.000 đồng nợ gốc. Yêu cầu trả tiền lãi từ ngày 14/7/2023 cho đến ngày 30/7/2024 là (30.000.000 đồng x 01%/tháng x 381 ngày) : 30 = 3.810.000 đồng; trong thời gian chậm trả ông M tiếp tục phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 01%/tháng cho đến khi trả xong nợ. Về thời hạn trả nợ, bà L yêu cầu trả ngay vì đã quá hạn lâu rồi. Ông M phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Tại bản tự khai và quá trình làm việc bị đơn ông Đặng Văn M trình bày:
Ngày 14/7/2023 ông M có vay của bà Hà Thị Kim L số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 01%/tháng, thời hạn vay là 14/8/2023 sẽ trả hết nợ, đến hẹn trả nợ do kinh tế khó khăn kinh tế nên không trả nợ như cam kết. Nay chấp nhận trả cho bà L 30.000.000 đồng nợ gốc; chấp nhận trả tiền lãi phát sinh từ 14/7/2023 đến 30/7/2024 là 30.000.000 đồng x 01%/tháng x 381 ngày = 3.810.000 đồng, trong thời gian chậm trả ông M tiếp tục chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 01%/tháng cho đến khi trả xong nợ, xin trả số nợ trên chậm nhất là 31/12/2024, chấp nhận chịu án phí dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà , cần buộc ông M trả cho bà L 30.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Hà Thị Kim L với bị đơn ông Đặng Văn M là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa bà Loan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bà Loan.
Về nội dung: Ngày 14/7/2023 ông Đặng Văn M có vay của bà Hà Thị Kim L số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày kể từ ngày 14/7/2023 đến ngày 14/8/2023, hai bên thỏa thuận lãi suất là 01%/tháng, đến hạn trả nợ ông M không trả nên bà Loan khởi kiện yêu cầu trả nợ.
Xét thấy, các bên đều thừa nhận việc vay tiền trên, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh, việc thiết lập hợp đồng vay tài sản là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, đây là giao dịch hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Bà L đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình nhưng ông M không thực hiện nghĩa vụ là phải trả tiền đúng thời hạn đã thỏa thuận. Như vậy, ông M đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, bà L yêu cầu ông M trả số nợ gốc 30.000.000 đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về lãi suất: Bà L yêu cầu tính lãi suất 01%/tháng kể từ ngày vay đến khi trả xong nợ, ông M cũng chấp nhận nên lãi suất được tính từ ngày 14/7/2023 đến ngày 22/8/2024 là 403 ngày, cụ thể: (30.000.000 đồng x 403 ngày x 01%/tháng) : 30 = 4.030.000 đồng.
Về thời hạn trả nợ: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông M xin trả nợ cho bà L chậm nhất là 31/12/2024 nhưng bà L không đồng ý. Mặt khác, khoản nợ trên đã quá hạn, nên cần buộc ông M trả số nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sự: Do yêu cầu của bà L được chấp nhận nên cần ông M phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Cần trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự cho bà L đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 470, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Kim L. Buộc ông Đặng Văn M trả cho bà Hà Thị Kim L số tiền 34.030.000 đồng (Ba mươi bốn triệu, không trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó, nợ gốc là 30.000.000 đồng; nợ lãi là 4.030.000 đồng (tạm tính đến 22/8/2024).
Kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự: Buộc ông Đặng Văn M phải chịu 1.701.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; trả lại cho bà Hà Thị Kim L 750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo, theo biên lai số 0002134, ngày 11/6/2024.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Hà Thị Kim L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án; bị đơn ông Đặng Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; - Cổng TTĐT Tòa án; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Phạm Đăng Khoa |