- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh T, anh Trần Quang D đối với chị Vương Thị H về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2024/DS-ST Ngày: 21-5-2024 V/v Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuyễn.
2. Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Chị Phan Thị Thanh T, sinh năm 1990;
1.2. Anh Trần Quang D, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Chị Vương Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Thanh T trình bày: Ngày 09-02-2024, chị H có vay của vợ chồng chị số tiền 1.200.000.000 đồng. Đến nay chị H vẫn không trả nợ cho chị. Nay vợ chồng chị T khởi kiện yêu cầu chị H có trách nhiệm trả cho vợ chồng chị số tiền 1.200.000.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đồng nguyên đơn anh Trần Quang D trình bày: Anh là chồng của chị T, anh thống nhất theo lời trình bày của chị T, yêu cầu chị H có trách nhiệm trả cho vợ chồng anh số tiền 1.200.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Vương Thị H trình bày: Chị thừa nhận có nợ vợ chồng chị T, anh D số tiền 1.200.000.000 đồng như chị T trình bày. Chữ viết, chữ ký trong giấy vay tiền ngày 09-02-2024 là của chị. Việc chị còn nợ chị T, anh D là sự thật, nên chị đồng ý trả cho theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên chị H xin trả dần cho chị T, mỗi tháng 5.000.000 đồng, trả đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị H có trách nhiệm trả cho chị T, anh D số tiền 1.200.000.000 đồng, ghi nhận chị T, anh D không yêu cầu tính lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phan Thị Thanh T, anh Trần Quang D khởi kiện yêu cầu chị Vương Thị H có trách nhiệm trả số tiền vay 1.200.000.000 đồng. Chị H có địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Về sự vắng mặt của đương sự: Chị T, anh D, chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên vụ án vẫn được tiến hành
2
xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Các đương sự đều thống nhất: Chị H có vay của chị T, anh D số tiền 1.200.000.000 đồng. Đến nay chị H vẫn chưa trả nợ cho vợ chồng chị T. Nên việc chị H còn nợ vợ chồng chị T, anh D số tiền 1.200.000.000 đồng là sự thật. Do đó, chị T, anh D khởi kiện yêu cầu chị H có trách nhiệm trả số tiền 1.200.000.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị T, anh D không yêu cầu tính lãi nên ghi nhận.
Về yêu cầu xin trả dần của bị đơn: Chị H trình bày do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần cho chị T, anh D, mỗi tháng trả 5.000.000 đồng, trả đến khi hết nợ nhưng chị T, anh D không đồng ý và yêu cầu này của chị H không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Vương Thị H phải chịu 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Phan Thị Thanh T, anh Trần Quang D không phải chịu, hoàn trả cho chị T, anh D số tiền 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013790 ngày 26-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 147, 244, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh T, anh Trần Quang D đối với chị Vương Thị H về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
Buộc chị Vương Thị H có trách nhiệm trả cho chị Phan Thị Thanh T, anh Trần Quang D số tiền 1.200.000.000 (một tỷ, hai trăm triệu) đồng.
3
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Chị Phan Thị Thanh T, anh Trần Quang D không phải chịu, hoàn trả cho chị T, anh D số tiền 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013790 ngày 26-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Chị Vương Thị H phải chịu 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC.THADS huyện Gò Dầu; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. 4 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Nguyện |