- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Tuấn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HSST Ngày: 25-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Xuyến và ông Nguyễn Trung Hoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Tuấn A, tên gọi khác: không có; sinh ngày 05/10/1994, tại
thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu C, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Doãn H và bà Đặng Thị T; vợ: Nguyễn Thị N và có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/3/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm: 1979; địa chỉ: tổ A, khu C, phường T,
thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt. 2. Anh Hoàng Văn H1, sinh năm: 1968; địa chỉ: tổ F, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 17/3/2023, tại khu vực tổ F, khu N, phường N,
thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố U phối hợp cùng Công an phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh và Công an phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra bắt quả tang Ngô Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Tuấn A liền thả túi ma túy đang cầm tại lòng bàn tay trái xuống nền đường cách vị trí T1 anh đứng khoảng 05cm thì bị phát hiện, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1,5x1,5) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 344/KL-KTHS ngày 22/3/2023, của Phòng K,
Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Ngô Tuấn A gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,265 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Ngô Tuấn A khai nhận: Khoảng 20 giờ
50 phút ngày 17/3/2023, Ngô Tuấn A cùng Trương Quốc H2 (trú tại: khu B, phường Q, thị xã Q) và một người thanh niên tên C (không xác định được lai lịch, địa chỉ) đi chơi cùng nhau tại thị xã Q. Lúc này H2 và Tuấn A rủ nhau mua ma túy để sử dụng, H2 đưa cho Tuấn A 400.000 đồng để Tuấn A đi lên thành phố U mua ma túy. Sau đó H2 chờ Tuấn A đến một quán Internet ở thị xã Q để Tuấn A ngồi chơi game còn H2 và C bỏ đi đâu không rõ. Khoảng 25 phút sau, Tuấn A và H2 trao đổi qua Messenger từ máy tính quán Internet nói H2 đã gọi xe ôm cho Tuấn A để đi lên thành phố U. Nếu có ai hỏi thì nói là: “Tuấn bạn của C thì sẽ lấy được ma túy”, Tuấn A đồng ý, trả tiền Internet rồi đi xe ôm (không rõ biển kiểm soát) đến khu vực cổng khu vui chơi H thuộc tổ F, khu N, phường N, thành phố U. Thấy sát lề đường có một thanh niên đi xe mô tô (không xác định được lai lịch và biển kiểm soát xe mô tô), Tuấn A bảo xe ôm đứng chờ, còn người thanh niên chở Tuấn A vào một ngõ nhỏ. Đi được khoảng 40 – 50m thì người này đưa cho Tuấn A 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1,5x1,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Xác định đúng là ma túy “đá” Tuấn A cầm ở lòng bàn tay trái rồi đưa cho người thanh niên 250.000 đồng, người này cầm tiền rồi bỏ đi đâu Tuấn A không rõ, còn Tuấn A đi bộ ra ngoài ngõ, khi đi đến đầu ngõ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ gói ma túy.
Tại Cáo trạng số: 49/CT- VKSUB ngày 27/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân
dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ
nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/3/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy không vì mục đích lợi
nhuận, bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ
luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 344/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q, còn nguyên vẹn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều
tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên
tòa là phù hợp với nhau, với lời khai của người làm chứng, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường N, thành phố U lập hồi 21 giờ 40 phút ngày 17/3/2023, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 17/3/2023, tại tổ F, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Ngô Tuấn A là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,265 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc
quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì đua đòi, không vượt qua được sự cám dỗ của ma túy, với thái độ coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.
*Tình tiết tăng nặng: không có.
*Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai
báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính
chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật
hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Số ma túy Methamphetamine
hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, nên tịch thu tiêu hủy.
Những tình tiết khác trong vụ án: Đối với nam thanh niên bán ma túy cho
Tuấn A, người đàn ông chạy xe ôm và thanh niên tên C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trương Quốc H2 là người Tuấn A khai đưa tiền để mua ma túy, Cơ
quan điều tra tiến hành xác minh nhưng H2 không có mặt tại gia đình, chưa lấy được lời khai làm rõ các nội dung liên quan nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải và đề
nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự.
Xử phạt: Ngô Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm
giữ 17/3/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 344/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn.
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật
chứng ngày 29 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ngô Tuấn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng
hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát ND-TP. Uông Bí; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; -Cơ quan THA hình sự công an TP Uông Bí; - Cơ quan điều tra Công an TP Uông Bí; - Nhà tạm giữ Công an TP.Uông Bí; - Chi cục THADS TP. Uông Bí; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Thị D1 – Phan Tuấn A1 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng Vũ Huy Hùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy H3 |