vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 17/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ C
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày: 27-03-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 42/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm L, sinh năm: 1971 tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp 4, xã T, huyện P, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Tổ 12, ấp L, xã Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm N, sinh năm: 1921 (đã chết) và bà Phạm K, sinh năm: 1936; có 03 con, lớn nhất sinh năm: 1998, nhỏ nhất sinh năm: 2009; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/9/2020 bị xã Hoà Thành, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành); nhân thân: + Ngày 22/7/2015 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Tiền Giang xử phạt 10.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 26/2015/HSST, đã được xóa án tích; + Ngày 20/8/2016, bị Công an huyện P, tỉnh Tiền Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc” (đã chấp hành xong); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 - có mặt.

Bị hại: Bà Trần P, sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: Khu phố 2, phường p, thị xã C, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Phan Đ, sinh năm: 1988; hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông Đáo: Ông Lê H, sinh năm 2003; hộ khẩu thường trú: xã N, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: Tổ 12, ấp L, xã Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 08/3/2023) – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/11/2022, Phạm L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 63H1-4465 đi từ nhà thuê tại số 266A, tổ 12, ấp L, xã Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương đến chợ Bến Cát thuộc khu phố 2, phường P, thị xã C để mua đồ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, L đến chợ và dựng xe phía trước tiệm tạp hóa số 74, lô B của bà Trần P, rồi đi vào hỏi mua hộp cơm bằng xốp. Trong lúc bà P đi lấy hộp cơm thì L nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Z Fold 3 để trên hộp giấy gần vị trí chỗ bà P ngồi bán. Lúc này, L nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại đem cầm cố lấy tiền tiêu xài nên khi bà P đưa hộp cơm cho L và tiếp tục đi lấy hàng bán cho người khác thì L dùng tay trái cầm bịch đựng hộp cơm che khuất tầm nhìn của bà P, rồi lén lút dùng tay phải lấy điện thoại của bà P bỏ vào túi áo khoác bên phải của mình. Sau đó, L đi ra điều khiển xe mô tô về nhà, tháo sim điện thoại vứt bỏ.

Ngày 15/11/2022, L đến tiệm cầm đồ H thuộc ấp L, xã Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương yêu cầu cầm cố điện thoại lấy trộm. Ông Lê H không biết điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 do L chiếm đoạt mà có nên đồng ý cầm cố với số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền có được, L tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi bị mất điện thoại, bà P kiểm tra camera trong tiệm thì phát hiện L là người đã lấy điện thoại của mình nên trình báo Công an phường Mỹ Phước, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 13 giờ ngày 17/11/2022, bà P nhìn thấy L trong khu dân cư Mega City thuộc xã Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương nên báo Công an phường P mời L về trụ sở làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Z Fold 3 màu đen;

- 02 hợp đồng thế chấp tài sản của dịch vụ cầm đồ Việt Hùng Phát;

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 63H1-4465;

- 01 giấy đăng ký xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 63H1-4465;

- 01 nón kết bằng vải, màu xanh;

- 01 áo khoác vải, màu hồng, nhãn hiệu NH made in Viet Nam;

- 01 bộ đồ bộ bằng vải, màu xanh-trắng;

- 01 USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh Phạm L thực hiện hành vi trộm cắp ngày 12/11/2022.

Theo Kết luận định giá tài sản số 139/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Z Fold 3 màu đen, trị giá 18.330.000 đồng (mười tám triệu, ba trăm ba mươi nghìn đồng).

Ngày 25/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C xử lý vật chứng giao trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Z Fold 3 cho bà Trần P. Bà P không yêu cầu giải quyết gì thêm.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê H là người đại diện hợp pháp của ông Phan Đ yêu cầu Phạm L bồi thường số tiền 4.000.000 đồng. L đồng ý nhưng hiện L chưa có tiền bồi thường.

Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 03/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.

Tại phần tranh luận:

- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C trình bày luận tội:

+ Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C tại Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 03/3/2023;

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo L bồi thường cho ông Phan Đ số tiền 4.000.000 đồng.

+ Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tuyên trả cho bị cáo 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 63H1-4465 (kèm 01 giấy đăng ký xe);

- Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 nón kết bằng vải, màu xanh không rõ nhãn hiệu; 01 áo khoác vải màu hồng, nhãn hiệu NH made in Viet Nam; 01 bộ đồ bằng vải màu xanh trắng, không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm L: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 12/11/2022, tại tiệm tạp hóa số 74, lô B chợ C thuộc khu phố 2, phường P, thị xã C, tỉnh Bình Dương, Phạm L có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Z Fold 3 trị giá 18.330.000 đồng của bà Trần P. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 03/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương.

Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật định là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Trước đó, bị cáo từng bị kết án về tội đánh bạc (đã xóa án tích), từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Do đó, cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên có cơ sở chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bà Trần P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3, bà P không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

- Ông Lê H là người đại diện hợp pháp của ông Phan Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000 đồng, bị cáo L đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên nên cần ghi nhận.

Về vật chứng:

- Ngày 25/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã giao trả cho bị hại Trần P điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 là phù hợp.

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 63H1-4465: Đây không phải là phương tiện phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

- Đối với: 01 nón kết bằng vải, màu xanh không rõ nhãn hiệu; 01 áo khoác vải màu hồng, nhãn hiệu NH made in Viet Nam; 01 bộ đồ bằng vải màu xanh trắng: Các đồ vật này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 47, Điều 48, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 30, Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 17/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Phạm L bồi thường cho ông Phan Đ số tiền 4.000.000 đồng đồng (bốn triệu đồng).

Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án xong.

3. Về xử lý vật chứng:

- Trả cho bị cáo Phạm L xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 63H1-4465, số máy JC43 – 0670225, không kiểm tra được số khung (xe không khóa, không gương, xe trầy xước, bong tróc, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005945 do Công an huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 31/3/2013.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 nón kết bằng vải, màu xanh không rõ nhãn hiệu; 01 áo khoác vải màu hồng, nhãn hiệu NH made in Viet Nam; 01 bộ đồ bằng vải màu xanh trắng.

4. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./

Cỡ chữ