- Tranh chấp gì? án hình sự — "Môi giới mạ dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Duy T phạm tội Môi giới mại dâm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:53/2023/HS-ST Ngày 28/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thảo
2. Bà Lý Thúy Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Kim Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/TLST-HS, ngày 06/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HS, ngày 17/4/2023, đối với bị cáo:
Vũ Duy T, sinh ngày 17/8/1993 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Vũ Duy Thân, sinh năm 1967 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; vợ: Trần Thị A, sinh năm 1992; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2013 con nhỏ sinh năm 2015
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị A, sinh năm 1992;
Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường X, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).
2. Chị Nguyễn Thị N , sinh năm 1989
Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã C, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Nơi ở: Xóm X, xã X, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Những người làm chứng:
1. Chị Lù Thị L, sinh năm 1990
Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. (vắng mặt)
Nơi ở: Xóm X, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
2. Chị Nguyễn Thị N , sinh năm 1989
Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội.
Nơi ở: XómX, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
3. Anh Hoàng Anh Dũng, sinh năm 1998
Địa chỉ: Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (văng mặt)
4. Anh Hà Văn Đạt, sinh năm 2003
Địa chỉ: Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 28/12/2022, Vũ Duy T, trú tại Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (làm nghề lái xe taxi) đang ở nhà thì Hoàng Anh Dũng, trú tại tổ dân phố 4, phường Đội Cấn, thành phố Tuyên Quang gọi điện thoại thuê xe taxi, bảo Tuấn đến quán cơm Bình Oanh tại thôn 4, xã Lưỡng Vượng, thành phố Tuyên Quang đón Dũng và Hà Văn Đạt, trú tại tổ dân phố 4, phường Đội Cấn, thành phố Tuyên Quang, Tuấn đồng ý và điều khiển xe ô tô biển số 22A-178.13 (xe đăng ký mang tên Tuấn) đến quán cơm Bình Oanh chờ Dũng và Đạt.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, Dũng và Đạt ăn cơm xong lên xe ô tô của Tuấn, bảo Tuấn chở đi uống nước. Trên đường đi Dũng và Đạt nảy sinh ý định mua dâm nên nhờ Tuấn liên hệ cho 02 người phụ nữ để mua bán dâm. Tuấn dùng số điện thoại 0368.838.837 của mình gọi vào số điện thoại 0852.093.888 của Nguyễn Thị N (Đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; hiện ở tại xóm 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Nguyệt thường đi xe taxi của Tuấn nên Tuấn có số điện thoại của Nguyệt và biết Nguyệt thường xuyên đi bán dâm) nói với Nguyệt cần 02 người để đi bán dâm cho 02 người nam giới và thỏa thuận giá 1.500.000đồng/1 người/ lượt, Nguyệt đồng ý. Lúc này Lù Thị Luyến (Đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Bản Phiệt, xã Bản Phiệt, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) đang ở cùng phòng với Nguyệt nghe thấy nên xin đi cùng. Sau khi thỏa thuận giá bán dâm với Nguyệt, Tuấn nói với Dũng và Đạt là giá mua dâm của 02 người là 5.000.000đồng, Dũng và Đạt đồng ý. Tuấn điều khiển xe chở Dũng và Đạt đến nhà nghỉ Tuấn Phượng ở thôn 7, xã Lưỡng Vượng, thành phố Tuyên Quang (do Nguyễn Văn Tuấn, trú tại thôn 7, xã Lưỡng Vượng, thành phố Tuyên Quang làm chủ) để Dũng và Đạt thuê phòng. Sau đó Dũng chuyển số tiền 5.000.000đồng từ tài khoản 103870366571 của Dũng mở tài ngân hàng Viettinbank vào tài khoản ngân hàng 103006189869 của Tuấn mở tại ngân hàng Viettinbank. Tuấn điều khiển xe ô tô lên khu vực xóm 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn đón Nguyệt và Luyến. Trên đường đi, Tuấn chuyển khoản số tiền mua dâm là 3.000.000đồng đến tài khoản số 23377937 của Nguyệt mở tại ngân hàng ACB. Sau khi chở Luyến và Nguyệt đến nhà nghỉ Tuấn Phượng, Tuấn điều khiển xe đi về. Còn Luyến vào phòng số 304 và quan hệ tình dục với Dũng, Nguyệt vào phòng số 303 quan hệ tình dục với Đạt. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố Tuyên Quang kiểm tra, phát hiện. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Duy T.
Cáo trạng số 48/CT- VKSTP ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vũ Duy T về tội Môi giới mại dâm, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Duy T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các đối tượng mua bán dâm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập được.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Duy T phạm tội Môi giới mại dâm.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 khoản 4 Điều 328, điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy T từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng đến 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù.
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su màu xanh đã bị xé rách, bề mặt vỏ có chữ "HA ULTRA THIN". 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su màu vàng đã bị xé rách, bề mặt vỏ có chữ "Water Elotus" và tiêu hủy 02 sim Viettel.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen.
Trả lại cho chị Trần Thị A 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA AVANZA PREMIO màu bạc tím, biển số 22A-178.13 đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe ô tô.
Đối với số tiền ngày 21/02/2023 Trần Thị A (vợ Tuấn) giao nộp số tiền 2.000.000 đồng (số tiền Tuấn hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm). Ngày 20/02/2023 Nguyễn Thị N giao nộp số tiền 3.000.000 đồng (Tiền Nguyệt và Luyến bán dâm). Toàn bộ số tiền trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ tại kho bạc nhà nước thành phố Tuyên Quang cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị A có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX xem xét cho bị cáo, đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 28/12/2022, tại nhà nghỉ Tuấn Phượng thuộc thôn 7, xã Lưỡng Vượng, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, Vũ Duy T trú tại Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi môi giới cho Lù Thị Luyến, trú tại thôn Bản Phiệt, xã Bản Phiệt, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai (chỗ ở tại xóm 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) bán dâm cho Hoàng Anh Dũng trú tại Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; Nguyễn Thị N , trú tại thôn Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (chỗ ở tại xóm 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) bán dâm cho Hà Văn Đạt trú tại Tổ X, phường Đ, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Số tiền Tuấn hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm là 2.000.000đồng (Hai triệu đồng).
Hành vi của bị cáo Vũ Duy T đã phạm vào tội Môi giới mại dâm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Ðiều 328 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi tệ nạn mại dâm đang được nhà nước nghiêm cấm và hệ lụy của tệ nạn này là nguyên nhân lây lan những căn bệnh truyền nhiễm như HIV, AIDS. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục với bị cáo và phòng ngừa chung để bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có bố đẻ ông Vũ Duy Thân là thương binh hạng 2/4, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm được phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tuyên Quang có công văn số 206/CV-PC04(Đ3) ngày 18/4/2023 đề nghị xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những căn cứ trên, HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Hình phạt mà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo khoản 4 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, bên trong phong bì chứa 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng và 01 (một) vỏ bao cao su màu xanh bị xé rách, bề mặt vỏ có dòng chữ “HA ULTRA THIN” và 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, bên trong phong bì chứa 02 (hai) bao cao su đã qua sử dụng và 02 (hai) vỏ bao cao su màu vàng bị xé rách, bề mặt vỏ có dòng chữ “ Water Elotus”; 02 (hai ) sim Viettel, trên sim thứ nhất có dẫy số 898404800032177314, trên sim thứ hai có dãy số 8984048000332089916, đã qua sử dụng được niêm phong theo quy định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, số Imeil 352884794373085, số Imei2 353649454373082;
Trả lại cho chị Trần Thị A 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA AVANZA PREMIO màu bạc tím, loại 7 chỗ ngồi, biển số 22A-178.13 đã qua sử dụng, xe được niêm phong theo quy định.
Đối với số tiền ngày 21/02/2023 Trần Thị A (vợ Tuấn) giao nộp số tiền 2.000.000 đồng (số tiền Tuấn hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm). Ngày 20/02/2023 Nguyễn Thị N giao nộp số tiền 3.000.000 đồng (Tiền Nguyệt và Luyến bán dâm). Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
. Đối với Nguyễn Văn Tuấn là chủ nhà nghỉ Tuấn Phượng, không biết các đối tượng đến thuê phòng nghỉ để thực hiện hành vi mua bán dâm nên không xem xét xử lý.
Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị N , Lù Thị Luyến và hành vi mua dâm của Hoàng Anh Dũng, Hà Văn Đạt Công an thành phố Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính tại các Quyết định số: 000710, 000711, 001176, 001177, hình thức phạt tiền.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Hình sự; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Duy T phạm tội Môi giới mại dâm.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022.
Phạt tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, bên trong phong bì chứa 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng và 01 (một) vỏ bao cao su màu xanh bị xé rách, bề mặt vỏ có dòng chữ “HA ULTRA THIN”; 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, bên trong phong bì chứa 02 (hai) bao cao su đã qua sử dụng và 02 (hai) vỏ bao cao su màu vàng bị xé rách, bề mặt vỏ có dòng chữ “ Water Elotus”; 02 (hai) sim Viettel, trên sim thứ nhất có dãy số 898404800032177314, trên sim thứ hai có dãy số 8984048000332089916, đã qua sử dụng được niêm phong theo quy định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, số Imeil 352884794373085, số Imei2 353649454373082;
Trả lại cho chị Trần Thị A 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA AVANZA PREMIO màu bạc tím, loại 7 chỗ ngồi, biển số 22A-178.13 đã qua sử dụng, xe được niêm phong theo quy định.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, lập ngày 27/4/2023).
Trả lại cho chị Trần Thị A 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 22A-178.13 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang trả lại theo quy định).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
(Theo uỷ nhiệm chi, chuyển khoản, lập ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa đơn vị trả tiền Phòng tài chính kế hoạch thành phố Tuyên Quang với đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Vũ Duy T phải chịu 200.000đ(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Vũ Duy T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị A có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND thành phố Tuyên Quang;
- Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang;
- Cơ quan THAHS Công an thành phố Tuyên Quang;
- Chi cục THADS thành phố Tuyên Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- Bị cáo, bị hại;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Thi hành án hình sự;
Nguyễn Thị Thu Hà
- Lưu Toà án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thảo – Lý Thúy Hà
Nguyễn Thị Thu Hà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND thành phố Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Tuyên Quang; - Chi cục THADS thành phố Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo, bị hại; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu Toà án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |