- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/ HS-ST Ngày 17 – 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam và bà Đào Thị Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/ TLST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023, đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Nguyễn Xuân Ng - Sinh ngày: 25/7/1997, tại huyện B, tỉnh Lào cai. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông: Nguyễn Xuân N - Sinh năm: 1965 và bà: Nguyễn Thị B - Sinh năm: 1969, gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/5/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Trịnh Ngọc H - Sinh ngày: 15/4/1982 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã B, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông: Trịnh Ngọc H – Sinh năm: 1952 và bà: Ngô Thị D - Sinh năm: 1954, gia đình có 07 anh em, bị
1
cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ là Lê Thị Minh - Sinh năm: 1987 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014.
- Tiền án: Không có;
- Tiền sự: Có 01: Ngày 18/5/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên với thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 01/4/2022.
- Nhân thân: Ngày 17/01/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên với thời hạn 15 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/3/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
*. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân Ng: Ông Vũ Văn Ch - Trợ
giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
*. Bị hại:
1. Anh Nguyễn Xuân Ng, sinh năm 1997(Đồng thời là bị cáo trong vụ án),
Nơi cư trú: Thôn Bế, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai.
2. Anh Trịnh Ngọc H, sinh năm 1982 (Đồng thời là bị cáo trong vụ án),
Nơi cư trú: Xóm Thuận Phong, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều có mặt tại phiên tòa).
*. Người làm chứng:
1. Anh Trần Văn Hương, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Xóm Đồng Ỏm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
2. Anh Nguyễn Danh Giáp, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Xóm Ao Chũng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
3. Anh Nông Văn Dũng, sinh năm 1977;
Nơi cư trú: Xóm Đồng Ỏm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
4. Anh Trần Văn Thụ, sinh năm 1977;
Nơi cư trú: Xóm Đồng Ỏm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
5. Ông Vũ Tiến Diện, sinh năm 1968;
Nơi cư trú: Xóm Cà Phê, xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Nguyễn Xuân Ng và Trịnh Ngọc H cùng là công nhân xây dựng tại công trình Nhà thi đấu Đa năng của Ủy ban nhân dân phường Bách Quang, thành phố Sông Công do anh Trần Văn Hương (Sinh năm 1982, trú quán Đồng Ỏm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ) làm quản lý.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/9/2022, thì Ng và H cùng nhóm công nhân xây dựng gồm có anh Trần Văn Thụ (sinh năm 1977, trú quán xóm Đồng Ỏm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ), anh Nguyễn Danh Giáp (sinh năm 1984, trú quán xóm Ao Chũng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ), anh Nông Văn Dũng (sinh năm 1977, trú quán xóm Đồng Ỏm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ), anh Hoàng Văn Chuyền (sinh năm 1970, trú quán xóm Bán Luông, xã Phú Cường, huyện Đại Từ) và anh Nông Văn Ký (sinh năm 1984, trú quán xóm Cầu Trà, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ) cùng nhau ăn cơm, uống rượu tại lán công nhân trong công trường. Do đã có mâu thuẫn từ trước nên trong khi ăn cơm, giữa Ng và Trần Văn Thụ và Vũ Tiến Diện xảy ra cãi vã, chửi nhau. Thấy thế, Trần Văn Hương vào can ngăn và yêu cầu nhóm công nhân giải tán, còn Hương đi về lán ngủ của mình ở gần đó.
Sau khi không cãi chửi nhau với Diện và Thụ nữa thì Nguyễn Xuân Ng đi ra ngoài, nghe thấy Thụ đang nói chuyện điện thoại với ai đó, cho rằng Thụ gọi điện thoại bảo người đến đánh mình nên Nguyễn Xuân Ng đi xuống bếp để lấy 01 con Dao bằng kim loại, màu đen dài khoảng 36cm đang để ở bàn bếp và lên phòng lấy trong chiếc Balo cá nhân 01 thanh sắt dài khoảng 30cm, 01 đầu nhọn, 01 đầu được quấn vải trắng cầm ở tay rồi đi lên gặp anh Nông Văn Dũng để đưa cho Dũng 850.000đ nhờ Dũng sáng ngày mai đi lấy chiếc điện thoại mà Ng đang sửa gần đó rồi đi lên phòng anh Trần Văn Hương để nói về chuyện tiền lương và chuyển chỗ làm việc, lúc này có Nguyễn Danh Giáp cũng ở đó, được khoảng 5 phút thì Vũ Tiến Diện đến, tại lán ngủ, giữa Diện và Ng lại tiếp tục cãi nhau, sau đó Trịnh Ngọc H và Trần Văn Thụ đi đến lán, H chửi bới Ng, dùng gạch đá ném vào lán ngủ thì bị Hương đi ra quát “mày phá à” thì H nói “ừ, phá mẹ hết đi”. Thấy thế Hương dùng tay tát 4 – 5 cái vào mặt, bực tức vì bị đánh, H cúi xuống nhặt viên gạch rồi vung tay về phía Hương thì Ng xông đến làm viên gạch trúng vào mặt Ng làm Ng bị choáng và chảy máu ở vùng mắt bên trái. Bị đánh, Ng dùng thanh sắt nhọn mang sẵn theo người cầm ở tay phải đâm một nhát vào vùng ngực và mạn sườn phải của H làm H bị thương và ngã gục tại chỗ, Ng rút ra và khuya khoắng về phía trước thì trúng, làm xước sống mũi của Thụ gây chảy máu, sau đó, Ng vất thanh sắt nhọn lại, cầm theo con Dao rồi bỏ chạy về phía cổng ủy ban nhân dân phường Bách Quang thì bị Thụ, Diện và Giáp đuổi theo nhưng không kịp, còn Hương chạy sang công an phường để trình báo. Khi Ng chạy ra đến đường cách Mạng tháng 10 thì bị người dân giữ lại, đồng thời, cán bộ công an phường cũng
3
đến, khống chế Ng và thu giữ con dao. Sau đó, mọi người đã đưa H đi khám và điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đến ngày 22/9/2022 thì ra viện.
Tiếp nhận tin báo, công an phường Bách Quang đã lập biên bản sự việc, thu giữ 01 con Dao bằng kim loại, màu đen dài 36,5cm, lưỡi dao dài 21,5cm, bản rộng 7,5cm; 01 thanh kim loại màu xám dài 29cm, một đầu nhọn, bám dính vật chất màu nâu, một đầu quấn vải trắng; 01 viên gạch vỡ, màu xám, kích thước (5x7,5x10) cm, 01 viên gạch vỡ, kích thước (5 x10x11,5) cm; 01 viên gạch vỡ, màu xám, kích thước (5 x9,5x10) cm rồi bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Sông Công giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình xác minh, điều tra giải quyết vụ án, cơ quan CSĐT thu giữ trước cửa lán ngủ của anh Hương 01 mảnh gỗ có kích thước (16 x 5,5 x 2)cm trên mảnh gỗ có nhiều vết máu màu nâu dạng nhỏ giọt, thu giữ dấu vết máu màu nâu bám dính trên cát được đưa vào bì niêm phong ký hiệu T và T1.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công đã trưng cầu giám định pháp y về thương tích đối với Nguyễn Xuân Ng và Trịnh Ngọc H.
Bản Kết luận giám định số 693/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Hiện tại Nguyễn Xuân Ng có 09 vết thương, tại các vị trí sau:
Sẹo Thái dương trái tỷ lệ 3%; Sẹo mắt trái, dưới lông mày tỷ lệ 3%; Sẹo má trái, tỷ lệ 3%; Sẹo vùng ngực, tỷ lệ 2%; Sẹo ngực trái, tỷ lệ 1%; Sẹo mạn sườn phải, vết 1, tỷ lệ 1%; Sẹo mạn sườn phải, vết 2, tỷ lệ 1%; Sẹo khủy tay trái, tỷ lệ 1%; Sẹo khủy tay phải, tỷ lệ 1%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 14,94% (làm tròn số là 15%).
Bản kết luận giám định số 811/TgT ngày 01/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận đối với Trịnh Ngọc H: Dấu hiệu chính qua giám định: Tổn thương nhu mô phổi, tổn thương màng phổi, hiện tại có 01 vết sẹo phần mềm KT nhỏ: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%, áp dụng phương pháp tính theo thông tư số 22/TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế.
Ngày 30/12/2022, Nguyễn Xuân Ng có đơn đề nghị khởi tố đối với Trịnh Ngọc H.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Xuân Ng, Trịnh Ngọc H đều không yêu cầu được bồi thường.
Tại cơ quan Điều tra, các bị cáo Nguyễn Xuân Ng, Trịnh Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKS, ngày 04-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trịnh Ngọc H và về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 1 Điều 134 của BLHS, truy tố bị
4
cáo Nguyễn Xuân Ng về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Xuân Ng, Trịnh Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân Ng, Trịnh Ngọc H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Trịnh Ngọc H, xử phạt bị cáo H từ 09 - 12 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Xuân Ng, xử phạt bị cáo Ng từ 30 - 36 tháng tù.
- Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy những vật chứng không có giá trị sử dụng (con dao bằng kim loại, thanh kim loại màu xám, viên gạch vỡ mảnh gỗ...)
- Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí HSST nộp vào Nhà nước theo quy định, bị cáo Ng, gia đình thuộc hộ cận nghèo, miễn nộp án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ng theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.
Người bào chữa cho Nguyễn Xuân Ng có ý kiến bào chữa được tóm tắt như sau: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công và điều luật áp dụng đối với bị cáo, xác định việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội là do bị cáo H gây thương tích cho bị cáo trước, dẫn đến bị cáo phạm tội. Ngoài ra, bị cáo phạm tội do nhận thức và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 30 tháng tù là phù hợp. Về án phí: Miễn nộp án phí cho bị cáo Ng theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Xuân Ng nhất trí ý kiến bào chữa nêu trên, không bổ sung gì thêm.
Các bị hại (Đồng thời là cũng là các bị cáo trong vụ án) có ý kiến: Về hình phạt chính đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Về bồi thường thiệt hại không yêu cầu được bồi thường.
5
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều có ý kiến nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, tự nguyện, nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của các bị cáo, lời khai những người tham gia tố tụng khác tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận:
Do thiếu kiềm chế trong việc giải quyết mâu thuẫn cá nhân, nên vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/9/2022, tại công trình xây dựng nhà thi đấu Đa năng phường Bách Quang, thuộc tổ dân phố Khu Yên, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Trịnh Ngọc H có hành vi dùng viên gạch vỡ (là hung khí nguy hiểm) đập vào vùng mặt bên trái bị cáo Nguyễn Xuân Ng, vì vậy, Nguyễn Xuân Ng đã dùng 01 thanh sắt nhọn (là hung khí nguy hiểm) đâm, gây thương tích cho bị cáo Trịnh Ngọc H, qua giám định pháp y Nguyễn Xuân Ng bị tổn hại thương tích 09%, Trịnh Ngọc H bị tổn hại thương tích 12%.
Xét thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi nêu trên của mình là nguy hiểm cho xã hội và gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi đó của bị cáo Trịnh Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết định khung hình phạt là: “Dùng ... hung khí nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo H được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của BLHS. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân Ng cũng đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Ng
6
được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng … hung khí nguy hiểm;
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a)…
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này…
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xem xét và xử lý theo quy định pháp luật nhằm tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Xuân Ng và Trịnh Ngọc H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo H còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong vụ án này, bị cáo H là người có lỗi trước dẫn đến bị cáo Ng phạm tội, do đó bị cáo Ng còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
- Xét thấy nhân thân các bị cáo thấy: Bị cáo Trịnh Xuân Ng chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo Trịnh Ngọc H tuy không có tiền án, nhưng là người có nhân thân xấu, đã có tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, nhưng khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem
7
xét lên một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội do từng bị cáo gây ra và cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng để có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
.Về thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Ngọc H đã gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Xuân Ng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân Ng cũng đã gây thương tích cho bị cáo Trịnh Ngọc H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%, vì vậy, các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị hại đều không yêu cầu được bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Đối với những vật chứng gồm: con dao, thanh kim loại, các viên gạch vỡ, mảnh gỗ ... Xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo, ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân Ng, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, biện pháp chấp hành hình phạt tù, xử lý vật chứng vụ án phù hợp với các quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
Liên quan trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Xuân Ng khai còn bị Vũ Tiến Diện, Trần Văn Thụ có hành vi dùng gạch ném gây thương tích nhưng tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định anh Diện, anh Thụ thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý.
Đối với anh Nguyễn Danh Giáp có thừa nhận ném gạch, đá về phía bị cáo Ng nhằm mục đích ngăn chặn hành vi của Ng bỏ chạy sau khi gây thường tích cho bị cáo H, tài liệu điều tra không có căn cứ xác định Giáp có hành vi gây thương tích đối với Ng nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành vi này của anh Nguyễn Danh Giáp.
Đối với thương tích 6% tại vùng ngực, mạn sườn, khuỷa tay của Nguyễn Xuân Ng, tài liệu đến nay chưa xác định được người thực hiện, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau theo quy định.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân Ng gia đình thuộc hộ cận nghèo, do đó cần áp dụng Điều 12 và 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn nộp án phí cho bị cáo Ng theo quy định.
- Bị cáo Trịnh Ngọc H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật.
8
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo (Đồng thởi cũng là bị hại trong vụ án) có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 47, điểm đ khoản 2 điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của BLLS đối với bị cáo Nguyễn Xuân Ng;
- Điều 47, điểm a khoản 1 điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Trịnh Ngọc H;
- Các Điều 106, 136, 329, 331 và Điều 333 của BLTTHS.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Xuân Ng và Trịnh Ngọc H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
2. Hình phạt chính: Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Xuân Ng 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam 26/5/2023.
- Bị cáo Trịnh Ngọc H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam 16/3/2023.
3. Ra Quyết định tạm giam các bị cáo Nguyễn Xuân Ng và Trịnh Ngọc H, mỗi bị cáo với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra xem xét giải quyết.
5.Về xử lý vật chứng vụ án như sau: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau đây:
- 01 con dao bằng kim loại, màu đen dài 36,5cm, lưỡi dao dài 21,5cm, bản rộng 7,5cm, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A;
- 01 thanh kim loại màu xám dài 29cm, một đầu nhọn, bám dính vật chất màu nâu, một đầu quấn vải trắng được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B;
- 01 viên gạch vỡ, màu xám, kích thước (10x7,5x5) cm, 01 viên gạch vỡ, kích thước (11,5 10x5) cm; 01 viên gạch vỡ, màu xám, kích thước (10x9,5x5) cm, được niêm phong phong bì niêm phong ký hiệu C;
- 01 mảnh gỗ kích thước (16x5,5x2) cm, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu T;
- 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa dấu vết máu.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố Sông Công và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).
9
6. Về án phí: Miễn nộp án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân Ng theo quy định pháp luật.
- Buộc bị cáo Trịnh Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.
7.Thông báo quyền kháng cáo: Các bị cáo (Đồng thời cũng là bị hại trong vụ án) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên; - Công an TP. Sông Công; - VKSND TP. Sông Công; - Chi cục THADS TP. Sông Công; - Các bị cáo (Đồng thời là bị hại); - Người bào chữa; - Lưu Hồ sơ vụ án. 10 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |