- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Lê Tuấn Q - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày: 14-6-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Phúc
2. Ông Phạm Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Lê Tuấn Q; sinh ngày: 24/09/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Cô B, Phường Cô G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Chung cư Đoàn Văn B, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Lâm Viết D và bà: Lê Thị N; vợ: Bùi Thị Thuý K; Bị cáo có 02 con lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/01/2023.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền nên Hoàng Lê Tuấn Q nảy sinh ý định nhờ người làm giả tài liệu, giấy tờ để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày 27/6/2022, Q sử dụng tài khoản Facebook tên “Q Hoang” truy cập vào nhóm “Lam Giay T” rồi đăng bài với nội dung “Cần làm giấy tờ uy tín, không cọc, liên hệ số điện thoại 0878744055”. Sau đó, có một người không rõ lai lịch sử dụng tài khoản Zalo tên “Thái Lâm Quang T” gửi yêu cầu kết bạn cho Q. Ngày 29/6/2022, Quang đến thuê phòng 401 của khách sạn Bông S, địa chỉ Sư Vạn H, Phường M, Quận N và liên lạc với tài khoản Zalo “Thái Lâm Quang T” cung cấp các thông tin và gửi hình của Q để “Thái Lâm Quang T” làm giả các giấy tờ sau, với giá 2.900.000 đồng:
- 01 căn cước công dân số 07909300770 mang tên Hoàng Lê Tuấn Q do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 05/11/2018.
- 01 hợp đồng thuê nhà Sư Vạn H, Phường M, Quận N, lập ngày 28/6/2022 giữa bên cho thuê là Nguyễn Thị Xuân D và bên thuê là Hoàng Lê Tuấn Q, tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Kim H.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ du lịch khách sạn Bông S, do Hoàng Lê Tuấn Q đứng tên chủ sở hữu và đại diện theo pháp luật của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2022.
Ngày 30/6/2022, Q sử dụng tài khoản của mình, số tài khoản: 217239879 mở tại ngân hàng A chuyển số tiền 2.900.000 đồng vào tài khoản số 1410134951002 mở tại ngân hàng M do Phạm Văn C đứng tên chủ tài khoản. Cùng ngày, có một nam thanh niên chạy xe đến địa chỉ Lê Quốc H, Phường P, Quận Q giao các giấy tờ giả trên cho Q. Sau đó, Q mang về cất tại phòng 401 của khách sạn Bông S. Q vào nhóm “Vay tiền góp ngày t” thông tin tìm người cho vay tiền, sau đó có 02 nam thanh niên đến khách sạn gặp Q, tại sảnh khách sạn. Q đưa các giấy tờ giả cho 02 nam thanh niên xem, để vay số tiền 50.000.000 đồng nhưng không thoả thuận được. Trong quá trình nói chuyện, anh Nguyễn Thanh H (lễ tân khách sạn) nghe được nội dung cuộc nói chuyện nên khi Q không có mặt ở khách sạn, anh H đã vào phòng 401 kiểm tra và phát hiện các giấy tờ giả nên báo cho quản lý là chị Nguyễn Thị Mỹ D biết. Khoảng 09 giờ ngày 01/7/2022, chị D đến Công an Phường 12, Quận 10 trình báo. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã trưng cầu giám định các giấy tờ thu giữ của Hoàng Lê Tuấn Q.
Tại Kết luận giám định số 4309/KT-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh:
- Căn cước công dân cần giám định ký hiệu A1 là giả.
- Hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 được làm giả bằng phương pháp in phun màu.
- Chữ ký đứng tên Cù Thành Đ trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký đứng tên Cù Thành Đ trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Kim H trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Kim H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một người ký ra.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Hoàng Lê Tuấn Q khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Qua xác minh, tại thôn A, xã Đa K, huyện Đức L, tỉnh Bình Thuận và tại địa chỉ An B, khu phố Bình Đường A, phường An B, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương, hiện nay Phạm Văn C không còn sinh sống ở địa phương, ở đâu không rõ. Đồng thời, xác minh số điện thoại 0981671617 được đăng ký liên lạc tại ngân hàng cũng do Phạm Văn C đứng tên. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với C nhưng hiện chưa có kết quả.
Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh các nam thanh niên đến sảnh khách sạn Bông S gặp Q và có công văn đăng báo tìm thông tin của những người trên nhưng hiện chưa có kết quả.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi của Q, sử dụng liên lạc với đối tượng làm giả giấy tờ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Lê Tuấn Q, 01 hợp đồng thuê nhà, 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, 01 USB chứa dữ liệu camera trích xuất tại khách sạn Bông S và 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSQ10 ngày 17 tháng 04 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hiện đang nuôi hai con nhỏ dưới 36 tháng tuổi) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Hoàng Lê Tuấn Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày toà tuyên án, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q đã có hành vi làm giả 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Lê Tuấn Q, 01 hợp đồng thuê nhà, 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Do vậy bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q bị truy tố và xét xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Phạm Văn C. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã ra quyết định truy tìm, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Hội đồng xét xử xét thấy ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không đủ cơ sở để xử lý.
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt bằng luật hình.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hiện đang nuôi hai con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Do vậy căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách và bị cáo phải thực hiện đúng nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Ngoài ra xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 341; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (14/6/2023).
Giao bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q cho Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách (Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự).
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi.
(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2023 giữa Công an Quận 10 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Hoàng Lê Tuấn Q chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định về án treo)./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (3) - Công an Q.10; (2) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (4) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |