- Tranh chấp gì? án hình sự — "llàm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 53/2023/HS-ST |
HUYỆN HÒA VANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày: 04.7.2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phú Đạt. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút. Bà Lê Thị Hồng. - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Quang - Kiểm sát viên. Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo: Lê Hữu Đ (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 14/02/1995 tại Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Nơi cư trú: K16/1 Bầu Hạt 5, phường V, quận T, thành phố Đ; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Văn Thanh (Sinh năm 1952) và bà Nguyễn Thị Tưởng (Sinh năm 1957). Bị cáo là con thứ 05 trong gia đình có 08 người con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đắc H, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Tổ 13, ph ường H, quận C, thành phố Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 04/01/2023, Lê Hữu Đ điều khiển xe mô tô khách biển kiểm soát 43D1-38542 lưu thông trên đường Trường Sơn, khi đi đến địa phận thuộc xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì Tổ công tác của Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành dừng xe để kiểm tra hành chính về nồng độ cồn. Qua kiểm tra nồng độ cồn trong máu của Đ là 0,4 miligam/lít (0,610 mg/l) nên đã lập biên bản vi phạm hành chính; trên cơ sở đó, lực lượng Cảnh sát giao thông đã yêu cầu Đ xuất trình giấy phép lái xe thì Đ xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng A1, số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022. Qua kiểm tra, nghi ngờ giấy phép lái xe nêu trên là giả nên đã tiến hành tạm giữ và ra Quyết định trưng cầu giám định. Tang vật tạm giữ:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 43D1-38542; - 01 GPLX hạng A1, số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở giao thông vận tải TP.Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022; - 01 thẻ sim điện thoại số: 0935.547558; Tại Công văn số: 1213 ngày 29/3/2023 của Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng xác định tính đến ngày 29/3/2023 Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng không cấp giấy phép lái xe hạng A1 số: 480224829461 cho Lê Hữu Đ. Tại kết luận giám định số: 90 ngày 07/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định giấy phép lái xe hạng A1 số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022 là giả nên Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Đà Nẵng đã chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Vang xử lý theo quy định. Quá trình điều tra xác định: Vào năm 2022, do bản thân chưa có giấy phép lái xe hạng A1 nên Lê Hữu Đ đã sử dụng tài khoản mạng cá nhân trên Facebook tên “Lê Đao” nhắn tin qua Messenger với trang mạng xã hội “Trung tâm sát hạch lái xe Quang Hà” cung cấp thông tin cá nhân và đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng A1 với giá 1.200.000 đồng, hẹn từ 07 đến 10 ngày sau sẽ giao giấy phép lái xe. Đến 07 ngày sau có 01 người giao hàng liên hệ giao cho Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1, số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở giao thông vận tải TP.Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022 và Đ giao cho người này số tiền 1.200.000 đồng. Sau khi có được giấy phép lái xe nêu trên thì đến ngày 04/01/2023, khi Đ sử dụng điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Trường Sơn thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên. Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Hữu Đ về tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Bản cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2023 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Đ phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” Căn cứ: Khoản 1 Điều 341, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách cho bị cáo từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu Đ đã khai nhận các hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng truy tố là đúng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có
ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 04/01/2023, Lê Hữu Đ điều khiển xe mô tô khách biển kiểm soát 43D1-38542 lưu thông trên đường Trường Sơn, khi đi đến địa phận thuộc xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì Tổ công tác của Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành dừng xe để kiểm tra hành chính về nồng độ cồn. Qua kiểm tra, Đ xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022. Do nghi nghờ giấy phép lái xe nêu trên là giả nên đã tiến hành tạm giữ và ra Quyết định trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số: 90 ngày 07/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định giấy phép lái xe hạng A1 số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022 là giả. Quá trình điều tra xác định: Vào năm 2022, Lê Hữu Đ đã sử dụng tài khoản mạng cá nhân trên Facebook nhắn tin qua Mesenger với trang mạng xã hội “Trung tâm sát hạch lái xe Quang Hà” cung cấp thông tin cá nhân và đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng A1 với giá 1.200.000 đồng. Như vậy, Cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Hữu Đ về tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Xét tính chất, hậu quả của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức là vi phạm nhưng để đối phó với các cơ quan chức năng khi tham gia giao thông bị cáo vẫn bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đối với bị cáo cần xử lý một mức án tương xứng với tình chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm và làm gương cho người khác. - Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ già là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. HĐXX thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng thêm Điều 65 BLHS để cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là phù hợp. - Đối với đối tượng đã làm giả và giao Giấy phép lái xe hạng A1 cho bị cáo Đ hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể nên việc Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
- Đối với chiếc điện thoại di động mà bị cáo Đ sử dụng liên hệ đặt mua giấy phép lái xe hiện bị cáo đã vứt bỏ, không thu hồi được nên HĐXX không xem xét. [8] Về xử lý vật chứng: - Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022 là tài liệu vật chứng nên cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án. - Đối với 01 thẻ sim điện thoại số: 0935.547558 xét thấy không cần giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. - Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 43D1-38542: Qua điều tra xác định chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đ nên Cơ quan điều tra đã chuyển cho Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Đà Nẵng để xử lý hành chính là đúng quy định. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ ỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu Đ phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. - Căn cứ: Khoản 1 Điều 341, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự sự xử phạt bị cáo Lê Hữu Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 04/7/2023. - Áp dụng Khoản 4 Điều 341 BLHS phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hữu Đ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Giao bị cáo Lê Hữu Đ cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS. - Tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số: 480224829461 mang tên Lê Hữu Đ do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15/02/2022. - Tịch thu tiêu hủy: 01 thẻ sim điện thoại số: 0935.547558. 2. Về án phí và quyền kháng cáo: - Về án phí: Căn cứ: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Lê Hữu Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận: - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Công an huyện Hòa Vang; - Sở Tư pháp Tp. Đà Nẵng; - Những người tham gia tố tụng; - Bị cáo; Phạm Phú Đạt - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Công an huyện Hòa Vang; - Sở Tư pháp Tp. Đà Nẵng; - Những người tham gia tố tụng; - Bị cáo; Phạm Phú Đạt - Lưu hồ sơ. - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Công an huyện Hòa Vang; - Sở Tư pháp Tp. Đà Nẵng; - Những người tham gia tố tụng; - Bị cáo; Phạm Phú Đạt - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Công an huyện Hòa Vang; - Sở Tư pháp Tp. Đà Nẵng; - Những người tham gia tố tụng; - Bị cáo; Phạm Phú Đạt - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |