- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày 14-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Hưng;
Bà Lê Thị Lan Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn H (tên gọi khác: Mon), sinh năm 1993, tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án:
- Ngày 04/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, tuyên phạt 06 năm tù về tội Cướp tài sản, tại Bản án số 80/2014/HS-ST. Chấp hành án tại Trại giam Xuân Lộc, ngày 11/10/2018 chấp hành xong án phạt tù (chưa xóa án tích do chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường).
- Ngày 06/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, tuyên phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án số 51/2021/HS-ST (thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2020). Chấp hành án tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Bình Dương, ngày 16/12/2021 chấp hành xong hình phạt tù (chưa xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1975. HKTT: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Võ Thành C, sinh năm 1965. HKTT: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Ông Võ Thành L, sinh năm 1996. HKTT: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Hoàng Anh K. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Tuấn H đã từng bị kết án về tội Cướp tài sản và tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 16/12/2021. Sau khi trở về địa phương sinh sống do không có việc làm nên H nảy sinh ý định tìm tài sản trộm cắp để bán tiêu xài. Thực hiện ý định, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/12/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu sơn: đỏ đen, biển số: 61H1-275.87 đi từ nhà trọ thuộc ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương đến xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà ông Nguyễn Hữu P tại ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo phát hiện 01 thùng xe lôi (mọt lôi) bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 230 cm, chiều ngang 116 cm, chiều cao 92 cm, hai bên mọt lôi có gắn hai bánh xe để trong sân nhà không có người trông coi nên bị cáo dừng xe mô tô trước cổng nhà ông P rồi đi bộ vào trong sân nhà, kéo thùng xe lôi ra ngoài. Khi kéo được 02 mét thì ông Nguyễn Hữu P phát hiện nên truy hô và cùng anh Hoàng Anh K bắt giữ bị cáo cùng tang vật giao cho Công an xã Minh Tân giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐG ngày 07/3/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng kết luận: 01 tH xe lôi (mọt lôi) bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 230 cm, chiều ngang 116 cm, chiều cao 92 cm, hai bên mọt lôi có gắn hai bánh xe để di chuyển trị giá là: 510.000 đồng.
Ngày 12/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng ra Quyết định xử lý vật chứng số 15/QĐ giao trả mọt lôi nói trên cho bị hại Nguyễn Hữu P.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, loại xe 02 bánh, màu sơn: đỏ đen, dung tích xi lanh: 110 cm3, biển số: 61H1-275.87, số máy: 5C6H144877, số khung: RLCS5C6H0FY144863 bị cáo làm phương tiện đi phạm tội, quá trình điều tra xác định, đây là xe do ông Võ Thành C đứng tên sở hữu. Ngày 31/12/2022, ông C cho con ruột tên Võ Thành L mượn. Sau đó, L cho bị cáo Nguyễn Tuấn H mượn xe đi mua thức ăn. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô nói trên để thực hiện hành vi phạm tội, ông C và anh L không biết.
Đối với hành vi của Nguyễn Tuấn H cùng Trần Anh T, sinh năm 1990, ngụ tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương lén lút trộm cắp vỉ sắt vào ngày 01/02/2023; ngày 04/02/2023 và ngày 07/02/2023 tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương của bà Nguyễn Thị P1 sinh năm 1980, ngụ tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.550.000 đồng, đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự và được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 46/QĐ-ĐTTH ngày 05/5/2023 và Quyết định khởi tố bị can số 94/QĐ ngày 05/5/2023 điều tra xử lý trong vụ án khác nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-DT ngày 02/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 08 đến 10 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả cho ông Võ Thành C chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, loại xe 02 bánh, màu sơn: đỏ đen, dung tích xi lanh: 110 cm3, biển số: 61H1-275.87, số máy: 5C6H144877, số khung: RLCS5C6H0FY144863.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu P đã nhận lại mọt lôi nên không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận với ý kiến luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về việc đã làm, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại Nguyễn Hữu P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn H khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/12/2022, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 thùng xe lôi (mọt lôi) bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 230 cm, chiều ngang 116 cm, chiều cao 92 cm, hai bên mọt lôi có gắn hai bánh xe để trong sân nhà của bị hại Nguyễn Hữu P tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Tại Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐG ngày 07/3/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng kết luận thùng xe lôi nói trên trị giá là 510.000 đồng. Mặc dù tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên ngày 04/9/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xét xử 06 năm tù về tội Cướp tài sản; ngày 06/7/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 43/CT-VKS-DT ngày 02/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhận thức, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi mà bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo bị xét xử về tội Cướp tài sản và tội Trộm cắp tài sản, bị cách ly khỏi xã hội một thời gian dài, thế nhưng bị cáo không biết quý trọng sự tự do, không biết quý trọng sự lương thiện để cố gắng cải sửa, làm người tốt mà tiếp tục phạm tội. Do vậy cần phải xử bị cáo với mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình.
Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 thùng xe lôi (mọt lôi) bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 230 cm, chiều ngang 116 cm, chiều cao 92 cm, hai bên mọt lôi có gắn hai bánh xe là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Hữu P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã giao trả chiếc mọt lôi cho bị hại theo Quyết định xử lý vật chứng số 15/QĐ ngày 12/6/2023 là phù hợp.
+ Đối với xe mô tô biển số xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, loại xe 02 bánh, màu sơn: đỏ đen, dung tích xi lanh: 110 cm3, biển số: 61H1-275.87, số máy: 5C6H144877, số khung: RLCS5C6H0FY144863 bị cáo làm phương tiện thực hiện tội phạm, quá trình điều tra xác định, đây là xe do ông Võ Thành C đứng tên sở hữu. Ngày 31/12/2022, ông C cho con ruột tên Võ Thành L mượn. Sau đó, L cho bị cáo Nguyễn Tuấn H mượn xe đi mua thức ăn. Ông C và anh L không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô nói trên để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại xe mô tô cho ông C.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu P đã nhận lại chiếc mọt lôi nên không có yêu cầu gì thêm.
Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 290, 292, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 173, Điều 46, Điều 48, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Xử lý vật chứng:
Trả cho ông Võ Thành C chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, loại xe 02 bánh, màu sơn: đỏ đen, dung tích xi lanh: 110 cm3, biển số: 61H1-275.87, số máy: 5C6H144877, số khung: RLCS5C6H0FY144863.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng đang tạm giữ (thể hiện Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
- Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/9/2023).
- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Cơ quan CSĐT - CA H. Dầu Tiếng; - Cơ quan THAHS&HTTT-CAH.Dầu Tiếng; - CC. THADS huyện Dầu Tiếng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Thị Ngọc Lan |