vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 31/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,08 (Không phẩy không tám) gam Heroine được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành. Trên một mặt của bì niêm phong ghi “Vật chứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày 21/09/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Th.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Bích Ph.

Bà Nguyễn Thị Ánh T.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Q – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đỗ Q– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 09 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 09 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1973, tại huyện B, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn Kh, xã S, huyện B, tỉnh L; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 2/12; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Vũ Thị Th, trú tại: Thôn Kh, xã S, huyện B, tỉnh L; Vợ: Tẩn Thị Ch, sinh năm 1977, trú tại: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh L. Bị cáo có 01 con, sinh năm 2005.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bản án số 31/HSST ngày 15/04/1997 của TAND tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Văn Đ 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Năm 2000, Đức chấp hành xong án phạt tù, ngày 08/06/2001 đã chấp hành xong các khoản án phí và khoản tiền thu hồi. Đối với các khoản tiền bồi thường, anh Nguyễn Bá Mạnh và anh Phạm Văn Ly đều không có đơn yêu cầu thi hành án, đến nay đã hết thời hiệu thi hành án.

+ Bản án phúc thẩm số 07/HSPT ngày 06/06/2001 của TAND tỉnh Lào Cai, chấp nhận kháng nghị số 507/KN.PT ngày 10/5/2001 của VKSND tỉnh Lào Cai, sửa bản án sơ thẩm số 19/HSST ngày 12/04/2001 của TAND huyện Bảo Thắng xử phạt Nguyễn Văn Đ 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Năm 2002, Đức chấp hành xong án phạt tù và khoản án phí HSST.

+ Bản án số 08/2005/HSST ngày 14/04/2005 của TAND huyện Bảo Thắng xử phạt Nguyễn Văn Đ 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2007, Đức chấp hành xong án phạt tù và khoản án phí HSST.

+ Tại bản án số 11/2017/HSST ngày 14/04/2017 của TAND huyện Bát Xát xử phạt Nguyễn Văn Đ 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 19/5/2017, Đức chấp hành xong khoản án phí HSST. Năm 2019, Đức chấp hành xong án phạt tù.

Tính đến ngày phạm tội lần này (ngày 07/07/2023), Nguyễn Văn Đ đã được xóa án tích đối với 04 bản án nêu trên.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị tạm giữ từ ngày 07/07/2023, tạm giam từ ngày 10/07/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng. Có mặt.

Người chứng kiến: - Anh Nguyễn Văn Thành - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 20 phút ngày 07/07/2023, tại khu vực thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Bảo Thắng phát hiện kiểm tra và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Đ, thu giữ và niêm phong 01 gói ma túy mà Đức giao nộp cho tổ công tác.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 07/07/2023, Nguyễn Văn Đ thuê xe ôm của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đi từ khu vực ngã tư đầu cầu Lu thuộc thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đến ga thị trấn Phố Lu với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến cổng ga Phố Lu, Đức bảo người xe ôm đứng đợi ở ngoài rồi một mình đi bộ vào trong sân sau của ga. Tại đây, Đức gặp và hỏi mua ma túy của 01 người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), Đức đưa 100.000 đồng cho người đàn ông, người này cầm lấy tiền rồi đưa cho Đức 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Đức biết đây là ma túy Heroine nên không mở ra kiểm tra mà cầm lấy gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi ra vị trí người xe ôm đang đợi để đi về nhà. Khi đi đến khu vực thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, Đức xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ đến hiệu thuốc với mục đích mua xi lanh để sử dụng ma túy nhưng chưa kịp mua thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Bảo Thắng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số 254/KL-GĐMT ngày 10/07/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,13 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Heroin). Cơ quan giám định đã trích 0,05 gam để giám định, hoàn lại cơ quan trưng cầu 0,08 gam.

Cáo trạng số 49/CT-VKSBT ngày 29 tháng 08 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù giam. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine còn lại sau trích mẫu. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Thắng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận ngày 07/07/2023 bị cáo đã mua 0,13 gam Heroin với giá 100.000 đồng, cất giấu trên người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng thì bị lực lượng Công an kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng toàn bộ tang vật. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 0,13 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết nhất định về pháp luật. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, để sử dụng cho bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Bảo Thắng, vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tuy nhiên bị cáo là người nghiện chất ma túy và có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị kết án về các tội trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn cố ý phạm tội.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Về nguồn gốc 0,13 gam heroine bị phát hiện thu giữ, bị cáo khai mua của người đàn ông ở khu vực ga Phố Lu, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng vào ngày 07/07/2023. Quá trình điều tra, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có đủ căn cứ để xử lý trước pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: 0,08 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản giá trị, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 07/07/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,08 (Không phẩy không tám) gam Heroine được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành. Trên một mặt của bì niêm phong ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Nguyễn Văn Đ tại thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai ngày 07/07/2023”.

(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/08/2023)

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Cỡ chữ