- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm L- NaThan"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “ Ly hôn” của bà Phạm L với ông Nathan .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST Ngày 17-8-2023 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Năng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Hồng
Bà Võ Thị Yến Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nathan , sinh năm 1976. Địa chỉ: XXX Oregon ZZZ, Hoa Kỳ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Phạm L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nathan đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2013 tại UBND thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn thì bà và ông Nathan chung sống với nhau được hai tháng tại địa chỉ Tổ A, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau đó thì ông quay về Mỹ sinh sống. Kể từ lúc đó bà và ông Nathan không còn gặp lại lần nào nữa. Thời gian đầu, ông bà còn liên lạc với nhau qua điện thoại nhưng dần dần thì mất liên lạc, vì vậy mà tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay, xác định không còn tình cảm nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nathan .
- Về con chung: Bà xác định, bà và ông Nathan không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định, bà và ông Nathan không có tài sản chung và nợ chung.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nathan không có văn bản phản hồi cho Tòa án về yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm L, cũng như không đến tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm L đối với ông Nathan .
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm L được ly hôn với ông Nathan .
Về quan hệ con chung: Bà Phạm L xác định không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm L xác định không có.
Án phí HNGĐ sơ thẩm, các chi phí tố tụng, bà Phạm L phải chịu theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Phạm L, địa chỉ cư trú tại Tổ A, phường P, quận S , thành phố Đà Nẵng, Việt Nam và bị đơn ông Nathan , địa chỉ cư trú tại XXX Oregon ZZZ, Hoa Kỳ nên vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, theo quy định tại các Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài của nguyên đơn - bà Phạm L và bị đơn – ông Nathan , theo quy định tại Điều 122 của Luật hôn nhân và gia đình.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt, thông báo thụ lý vụ án cho ông Nathan bằng đường ngoại giao theo Luật tương trợ tư pháp và yêu cầu ông Nathan gửi văn bản phản hồi cho Tòa án; đồng thời thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; về thời gian, địa điểm mở phiên tòa, theo quy định tại Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 15/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã nhận được Công văn số: 881/BTP-PLQT ngày 04/5/2023 của Bộ Tư pháp về kết quả ủy thác tư pháp. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã thực hiện việc ủy thác tư pháp đối với đương sự Nathan , có địa chỉ tại XXX Oregon ZZZ, Hoa Kỳ vào ngày 19/02/2023 bằng phương thức tống đạt hồ sơ trực tiếp cho đương sự. Tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã triệu tập hợp lệ nhưng ông Nathan vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông Nathan .
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm L và ông Nathan kết hôn vào ngày ngày 14/3/2013 tại UBND thành phố Đà Nẵng, hôn nhân tự nguyện (số đăng ký 47, quyển số 01/2013). Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà L, sau khi kết hôn, ông Nathan chung sống với bà trong thời gian hai tháng Sau đó thì ông quay về Mỹ sinh sống, còn bà vẫn sinh sống tại Đà Nẵng - Việt Nam. Từ đó vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, dẫn đến tình cảm phai nhạt. Nay, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nathan. Còn ông Nathan đã nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản phản hồi và vắng mặt tại phiên tòa.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm L thấy: Hôn nhân giữa bà L và ông Nathan chỉ tồn tại về mặt hình thức, mỗi người sống mỗi nơi, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Nathan là có căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Phạm L xác định không có, nên HĐXX không đề cập đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm L xác định không có, ông Nathan không có ý kiến phản hồi về tài sản chung và nợ chung, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, HĐXX không đề cập đến.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà Lan phải chịu 300.000đ.
Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài bà L phải chịu theo quy định tại Điều 153 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về chi phí thực tế phát sinh ủy thác ra nước ngoài: Bà L không phải chịu.
Về chi phí dịch thuật bà L phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “ Ly hôn” của bà Phạm L với ông Nathan .
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm L được ly hôn với ông Nathan .
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm L phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0005084 ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng, bà Lan đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3. Về phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:
Bà Phạm L phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tống đạt nhưng được khấu trừ vào tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo biên lai số: 0005114 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Bà Phạm L đã nộp đủ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
4. Bà Phạm L không phải chịu chi phí thực tế phát sinh ủy thác ra nước ngoài. Hoàn trả cho bà Phạm L 3.000.000 đồng tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0005113 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
5. Về chi phí dịch thuật và chứng thực: Bà Phạm L phải chịu 840.000 đồng, bà Lan đã nộp đủ theo Biên lai số 00035993 ngày 25/11/2022 của Phòng Tư pháp quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, theo hóa đơn bán hàng số 00000093 ngày 24/11/2022 và hóa đơn bán hàng số 00000113 ngày 21/7/2023 của Phòng Tư pháp quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng.
6. Về chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp thanh toán cho Cơ quan được ủy thác tư pháp: Bà Phạm L phải chịu 95 USD (đô la Mỹ), tương đương với số tiền 2.362.365 đồng, bà L đã nộp đủ theo giấy nộp tiền ngày 11/11/2022 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Ông Ích Khiêm Đà Nẵng.
7. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Phạm L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Nathan không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng; - Cục thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng; - UBND TP. Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thúy Năng |