vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng Dân sự năm 2015;

đình năm 2014; Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Ái và ông Quang"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH L
Bản án số: 53/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 29 - 6 - 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Mai Lương Anh;

2.Ông Mai Phú

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức - Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Đ - tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh L tham gia phiên tòa:

Bà Cao Thị Bích Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L;

xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 114/2023/TLST -HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2023/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm: 1973.

Địa chỉ: Số 43, đường Hà Huy Tập, Phường 3, thành phố Đ, tỉnh L (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Kim Q, sinh năm: 1972.

Địa chỉ: Số 88/6, đường H, Phường C, thành phố Đ, tỉnh L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn

Thị Thúy A thì: Bà và ông Nguyễn Kim Q kết hôn vào năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố Đ; hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số 88/6, đường Hà Huy Tập, Phường 3, thành phố Đ, tỉnh L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng đến năm 2013 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, bất đồng về quan điểm sống, bên cạnh đó ông Q còn có mối quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác mặc dù bà đã tha thứ cho ông Q nhiều lần nhưng ông Q vẫn không thay đổi nên vợ chồng thường cãi nhau, đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng bà đã sống ly thân cho đến nay, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Kim Bảo K, sinh ngày

06/11/1997 (đã trưởng thành) nên bà không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

Quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tiếp cận chứng cứ và hòa giải

nhưng ông Q vắng mặt nên việc hòa giải không thành.

Tại phiên tòa, bà A xác định hiện vợ chồng bà đã sống ly thân, tình cảm vợ

chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Q. Về con chung bà A xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Kim Bảo K, sinh ngày 06/11/1997 (đã trưởng thành) nên bà không có yêu cầu gì. Về tài sản chung vợ chồng bà tự thỏa thuận; về nợ chung không có nên không có yêu cầu gì.

Bị đơn ông Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà phát biểu ý

kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có mặt tại phiên tòa đã chấp hành đúng nội quy phiên toà, đương sự vắng mặt đã được tống đạt thủ tục đầy đủ đúng quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy A, cho bà A được ly hôn với ông Nguyễn Kim Q; về con chung bà A xác định con đã trưởng thành nên không xem xét, về tài sản vợ chồng bà tự thỏa thuận nên không xem xét, về nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Giữa bà Nguyễn Thị

Thúy A và ông Nguyễn Kim Q kết hôn với nhau vào năm 1996, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Q, nên xác định quan hệ tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật dân sự năm 2015; bị đơn ông Q hiện cư trú tại Phường C, thành phố Đ, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Kim Q đã được triệu tập hợp

lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa hôm nay nhưng vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà A và ông Q kết hôn với nhau vào năm 1996

trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 3, thành phố Đ. Theo trình bày của bà A thì vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, bất đồng về quan điểm sống, bên cạnh đó ông Q còn có mối quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác, đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng bà đã sống ly thân cho đến nay, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Q đến để hòa giải nhưng ông Q vắng mặt, chứng tỏ ông Q cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, bà A xác định không còn tình cảm gì với ông Q, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài, mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau và bà A cương quyết yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A và ông Q đã trầm trọng kéo dài, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A, xử cho bà A được ly hôn với ông Q là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Bà A xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn

Kim Bảo K, sinh ngày 06/11/1997 đã trưởng thành và phát triển bình thường, bà không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà A xác định vợ chồng tự thỏa thuận, nên Hội đồng

xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà A xác định không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử

không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ

thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ

luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn bà Nguyễn

Thị Thúy A đối với bị đơn ông Nguyễn Kim Q.

Xử:

1/Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Nguyễn Kim Q

được ly hôn.

2/Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà A đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011477 ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, bà A đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười

lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/6/2023). Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ