vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Th được ly hôn anh Trần Văn Ph.

Về con chung: Chị Th và anh Ph không có con chung. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Th - Trần Văn Ph"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Th được ly hôn anh Trần Văn Ph.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31 tháng 8 năm 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quang Hợi

2. Ông Đào Đức Phú

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Khánh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Th, sinh năm: 1990;

Trú tại: Số 71, đường Trần Đăng T, khu Ph, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

Bị đơn: Anh Trần Văn Ph, sinh năm: 1984;

Trú tại: Khu 2, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 12 năm 2022 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Vũ Thị Th trình bày: Chị Th và anh Trần Văn Ph đăng ký kết hôn ngày 13/10/2022 tại UBND phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn anh Ph và chị Th được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Tuy nhiên vì tin tưởng tình cảm mà chị Th đã không tìm hiểu kĩ. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại nhà anh Ph ở khu 2, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Trong gần hai tháng chung sống vợ chồng xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, thiếu tin tưởng và tôn trọng. Cụ thể, anh Ph ghen tuông vô lý, chửi bới và đánh đập chị Th 3-4 lần vì những lý do vặt vãnh. Sau đó, chị Th về nhà đẻ tại khu Ph, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh sống cùng gia đình và ly thân từ cuối tháng 01 năm 2023. Trong khoảng thời gian sống ly thân, anh Ph đã có lần chặn đầu xe và lấy hết giấy tờ, điện thoại của chị Th trên đường chị đi làm về. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Ph gây ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của chị, không thể quay về đoàn tụ với nhau được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Th được ly hôn với anh Trần Văn Ph.

Về con chung: Chị Th và anh Ph không có con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Văn Ph mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh đều cố tình vắng mặt không có lý do. Qua xác minh và lấy lời khai đối với gia đình anh Trần Văn Ph. Bà Nguyễn Thị Quý là mẹ đẻ anh Ph cho biết: Anh Trần Văn Ph vẫn ở cùng bà tại khu 2, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án đã gửi giấy triệu tập và thông báo hòa giải cho bà Quý là mẹ đẻ anh Ph nhận giấy và nhận trách nhiệm giao cho anh Ph các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án nhưng anh Ph vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, cũng không gửi ý kiến văn bản giấy tờ gì tới Tòa án.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng trình tự theo quy định của pháp luật, riêng có bị đơn là chưa tuân thủ vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Th. Chị Vũ Thị Th được ly hôn với anh Trần Văn Ph.

- Về con chung: Chị Th và anh Ph không có con chung.

- Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Vũ Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Vũ Thị Th và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn”. Bị đơn là anh Trần Văn Ph hiện đang cư trú tại: Khu 2, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với anh Ph nhưng anh Ph cố tình vắng mặt không đến tòa. Tòa án đã tiến hành thông báo và gửi các văn bản tố tụng cho cho gia đình anh Ph, nhưng anh Ph vẫn cố tình vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Th kết hôn với anh Trần Văn Ph năm 2022. Trước khi kết hôn anh Ph, chị Th đã tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, chị Th và anh Ph đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh Ph và chị Th bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp, anh Ph có những lời nói và hành động mất kiểm soát. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023. Chị Th về nhà bố mẹ đẻ tại phường V. Anh Ph cũng không có biện pháp gì để hàn gắn, cải thiện mối quan hệ vợ chồng, không ai quan tâm đến ai, sống ly thân từ đó đến nay. Cuộc sống vợ chồng không cải thiện và cắt đứt mọi quan hệ đã một thời gian. Anh Ph cố tình vắng mặt không đến Toà án để giải quyết việc chị Th có đơn xin ly hôn anh, như vậy phần nào thể hiện anh Ph không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Do vậy đề nghị của chị Th xin ly hôn anh Ph là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Th và anh Ph không có con chung.

Về tài sản: Không có, nên không đặt ra xem xét.

Về công nợ: Không có, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Vũ Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, Điều 227, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Th được ly hôn anh Trần Văn Ph.

2. Về con chung: Chị Th và anh Ph không có con chung.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về công nợ chung, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự: Chị Vũ Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Vũ Thị Th đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0001791 ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Chị Th đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết kết quả bản án.

Cỡ chữ