- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi K của nguyên đơn, bà Kim Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 6 – 2023 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Huy Tùng.
2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kim Thị K, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh S.
- Bị đơn: Ông Triệu T, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Giồng Chát, xã Liêu Tú, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi K, nguyên đơn bà Kim Thị K trình bày:
Bà Kim Thị K với ông Triệu T kết hôn với nhau vào năm 2013. Hai người đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận số 91 ngày 24/5/2013.
Sau khi kết hôn hai người sống bên gia đình chồng, thời gian đầu sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc thường xuyên cãi vã. Hai người ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Thời gian chung sống ông bà có hai con chung tên Triệu Đức N, sinh ngày 08/12/2004 và Triệu Thị Tuyết N1, sinh ngày 30/10/2007, hiện các con đang sống cùng bà K.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Kim Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Triệu T.
- Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Triệu Thị Tuyết N, sinh ngày 30/10/2007. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Triệu Đức N1, sinh ngày 08/12/2004, hiện đã thành niên tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Triệu T không có lời trình bày do vắng mặt:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 35/2023/TB-TLVA ngày 27 tháng 3 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Triệu T nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi K của bà Kim Thị K. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông T, không tiến hành hòa giải được và ông T cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi K của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Kim Thị K được quyền ly hôn với ông Triệu T. Về con chung: Giao cháu Triệu Thị Tuyết N, sinh ngày 30/10/2007 cho bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng Triệu Đức N1, sinh ngày 08/12/2004, hiện đã thành niên tự nuôi sống bản thân nên không cần đặt ra xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Triệu T và bà Kim Thị K đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn ông T thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về nội dung: Nguyên đơn bà Kim Thị K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi K yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Triệu T.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Kim Thị K với ông Triệu T là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy T trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà K yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Cháu Triệu Thị Tuyết N, sinh ngày 30/10/2007. Hiện con đang sống cùng với bà K. Bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Xét thấy con đang sống cùng bà K và có nguyện vọng sống cùng mẹ nên yêu cầu của bà K phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Riêng cháu Triệu Đức N, sinh ngày 08/12/2004, hiện đã thành niên tự nuôi sống bản thân, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà K yêu cầu nên bà K phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi K của nguyên đơn, bà Kim Thị K.
- Về hôn nhân: Bà Kim Thị K được quyền ly hôn với ông Triệu T.
- Về con chung: Giao cháu Triệu Thị Tuyết N, sinh ngày 30/10/2007 cho bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Triệu T không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Triệu Đức N1, sinh ngày 08/12/2004, hiện đã thành niên tự nuôi sống bản thân nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông T. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Triệu T không phải phải nộp án phí.
+ Bà Kim Thị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006654 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy bà T đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. - UBND xã Đ, huyện T, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |