vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Phạm Thanh Q .

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim L tiếp tục nuôi người con tên Phạm Ngọc Bảo Linh Đ, sinh ngày 25/4/2016. Chị Nguyễn Thị Kim L không yêu cầu anh Phạm Thanh Q cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Kim L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Phạm Thanh Q tới lui, thăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L - bị đơn Phạm Thanh Q - Ly hôn, nuôi con."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Phạm Thanh Q .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15/8/2023
Về việc“Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng

2. Ông Lê Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Đỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L - sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 12, ấp Kinh 8A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Phạm Thanh Q - sinh năm 1988

Địa chỉ: tổ 12, ấp Kinh 8A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang

(vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Phạm Thanh Q tự tìm hiểu quen biết khoảng 3 năm và chung sống với nhau vào năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã T , huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 10/6/2015.

Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q thường xuyên ghen tuông vô cớ, ghen vô cớ đối với cả cháu ruột chị L và cả những người làm cùng công ty mặc dù chị L không làm gì, anh Q thường hay đến chỗ trọ chị L ở chửi bới, đập phá đồ đạc và đánh chị L 2 lần, chị L cũng đã có trình báo công an nơi ở trọ, anh Q không có trách nhiệm với vợ con, chỉ biết đến bản thân, từ đó vợ chồng thường hay cự cãi, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, nay chị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, chung sống với nhau không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ tháng 3/2022 cho đến nay.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 1 con chung: Phạm Ngọc Bảo Linh Đ, sinh ngày 25/4/2016. Hiện cháu Linh Đ đang sống chung với chị L .

Tại phiên tòa chị L yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L yêu cầu được ly hôn với anh Q .

- Về con chung: Chị L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: chị L xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.

* Tòa án có triệu tập anh Phạm Thanh Q để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng anh Phạm Thanh Q vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim L .

- Về quan hệ con chung: Đề nghị giao cháu Phạm Ngọc Bảo Linh Đ, sinh ngày 25/4/2016 cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: chị L xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh Q vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt anh Phạm Thanh Q .

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh Q chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị L tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh Q vẫn không đến Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh Q chung sống với nhau được UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 73, ngày 10/6/2015, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị L là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, vợ chồng anh chị chung sống với nhau đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị L cho rằng là do anh Q ghen tuông vô cớ, cả những người làm cùng công ty mặc dù chị L không làm gì, anh Q thường hay đến chỗ trọ chị L ở chửi bới, đập phá đồ đạc và đánh chị L 2 lần, chị L cũng đã có trình báo công an nơi ở trọ, từ đó làm cho tình cãm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn hơn.

Tại phiên tòa, chị L thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị L và anh Q hai bên đã ly thân với nhau từ tháng 3/2022 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L được ly hôn với anh Q .

Về quan hệ con chung: Chị L và anh Q chung sống có 01 người con tên Phạm Ngọc Bảo Linh Đ, sinh ngày 25/4/2016, hiện đang sống với chị L .

Xét thấy, cháu Linh Đ hiện đang sống với chị L , được chị L nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu. Hội đồng xét xử thống nhất giao cho chị L tiếp tục nuôi con là phù hợp, chị L có khả năng nuôi con nên không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Trường hợp anh Q cho rằng có tài sản chung và có tranh chấp, sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Phạm Thanh Q .

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim L tiếp tục nuôi người con tên Phạm Ngọc Bảo Linh Đ, sinh ngày 25/4/2016. Chị Nguyễn Thị Kim L không yêu cầu anh Phạm Thanh Q cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Kim L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Phạm Thanh Q tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về quan hệ tài sản, nữ trang chung, nợ chung: chị L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Kim L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002494 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Phạm Thanh Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ