- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Vi Thị T và anh Lô Xuân X"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 9 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và bà Hồ Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1996, có đơn xin xét xử vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn TT, xã QT, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Lô Xuân H, sinh năm 1980, có đề nghị xét xử vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn Bắc Thắng, xã TH, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 5 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vi Thị T trình bày:
Chị T kết hôn với anh Lô Xuân H vào ngày 21/7/2017 tại UBND xã TH, huyện QL, tỉnh Nghệ An; kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn hai người sống với nhau hạnh phúc nhưng đến tháng 8/2019 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 05 năm tù. Trong thời gian anh H đi chấp hành án một mình chị nuôi con, chị xin bố mẹ chồng cho về ngoại ở xã QT, huyện QL ở cho đến nay. Ngày 30/4/2023 anh H chấp hành án xong trở về địa phương nhưng anh không quan tâm gì đến chị và con; vợ chồng không còn chung sống với nhau và ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, sống ly thân đã lâu nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lô Xuân H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lô Thị Thùy N, sinh ngày 25/5/2017, hiện nay cháu N đang ở với chị. Ly hôn chị xin được nuôi con, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Bản sao các tài liệu khởi kiện, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Lô Xuân H, anh có mặt tại địa phương nhưng anh vắng mặt không có lý do, không hợp tác.
Ngày 22/9/2023, anh Lô Xuân H đến tòa viết bản tự khai trình bày: Anh thống nhất như lời trình bày của chị T về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn hai người sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 8/2019 anh vi phạm pháp luật thì chị T tự ý bế con về bên ngoại ở, vợ chồng không mâu thuẫn. Quá trình anh đi chấp hành án phạt tù chị không thăm hỏi và động viên anh lời nào, sau khi anh chấp hành án xong thì chị nạp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ngày 30/4/2023 anh H chấp hành án xong chị T không cùng con về chung sống với anh và hai người ly thân cho đến nay. Anh không muốn ly hôn, nhưng chị T kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị T.
Vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày, hiện con đang ở với chị T, anh mong muốn được nuôi con và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh đề nghị Tòa án xét xử vắng.
Kết quả xác minh tại Công an xã TH: Trong phần mềm Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, anh Lô Xuân H hiện đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn BT, xã TH, huyện QL, tỉnh Nghệ An, không thể hiện việc anh H đăng ký tạm trú, tạm vắng ở địa phương nào. Tháng 8/2019 anh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích” bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 05 năm tù, ngày 30/4/2023 anh chấp hành án xong trở về địa phương cho đến nay.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã TH: Chị Vi Thị T và anh Lô Xuân H có đăng ký kết hôn tại UBND xã TH vào ngày 21/7/2017, kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tháng 8/2019 anh H phạm tội “ Cố ý gây thưng tích” bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 05 năm tù. Ngày 30/4/2023 anh chấp hành án xong trở về địa phương, nhưng anh không chung sống cùng vợ con, không quan tâm gì tới gia đình và vợ con. Việc chị T yêu cầu ly hôn với anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị T và anh H có 01 con chung là Lô Thị Thùy N, sinh ngày 25/5/2017, hiện con đang ở với chị T. Chị là Công nhân làm Công ty ở Thanh Hóa, anh H là lao động tự do, hai người đều là có sức khỏe lao động, nên về điều kiện nuôi con như nhau, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; Người tham gia tố tụng trong vụ án là nguyên đơn chấp hành pháp luật theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Lô Xuân H không chấp hành pháp luật đầy đủ và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lô Xuân H; chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị T; về cấp dưỡng nuôi con và tài sản do không ai yêu cầu nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, bị đơn anh Lô Xuân H có đăng ký hộ khẩu tại xã TH, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Quá trình giải quyết vụ án chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần mặc dù anh có mặt tại địa phương nhưng nhiều lần vắng mặt không có lý do và tại bản tự khai ngày 22/9/2023 anh H cũng yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Điều 277, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Về nội dung:
Hôn nhân giữa chị T, anh H là hợp pháp, tuân thủ điều kiện pháp luật quy định (Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2017 ngày 21/7/2017). Quá trình chung sống do anh vi phạm pháp luật, sau khi chấp hành án xong trở về địa phương anh không quan tâm gì tới vợ con và hai người không còn tình cảm với nhau, đã ly thân từ ngày 30/4/2023 cho đến nay. Tòa án tiến hành hòa giải để các bên có điều kiện gặp nhau, hàn gắn tình cảm để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh H trốn tránh và không có biểu hiện gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng để xây dựng hạnh phúc gia đình, thể hiện qua việc Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, chị T kiên quyết xin ly hôn. Qua xác minh tại địa phương, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Anh Lô Xuân H.
Về con chung: Chị T và anh H đều có nguyện vọng được nuôi con, xét nguyện vọng của chị T, anh H là chính đáng. Nhưng từ lúc anh H đi chấp hành án cho đến nay, con do chị T một mình nuôi dưỡng đã đảm bảo tốt về mọi mặt, con đang còn nhỏ và là nữ giới nên cần nhiều sự chăm sóc của người mẹ là phù hợp. Mặt khác anh H chưa quan tâm tới nhiều đến con, đáng lẽ lúc chấp hành án xong trở về địa phương phải gặp gỡ thăm nom con chung, nhưng anh bỏ mặc cho mình chị T nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, có căn cứ chấp nhận nguyện vọng của chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản: Chị Thùy và anh H đều không yêu cầu giải quyết nên không xét. Khi đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết về tài sản bằng một vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào Điều 51, các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2.Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lô Xuân H.
2.2. Về con: Giao con chung Lô Thị Thùy N, sinh ngày 25/5/2017 cho chị Vi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lô Xuân H do chị T không yêu cầu.
Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Chị Vi Thị T và anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu bằng một vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tiền số 0000258 ngày 18/5/2023.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật THADS. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật THADS.
5. Đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã TH (nơi ĐKKH 2017); - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Hà |