- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Đan P - Nguyễn Tấn C - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST Ngày 27/9/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯƠC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TINH BINH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Thanh Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sự;
Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tai tru sơ Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xet xư sơ thâm công khai vu án thu lý số 89/2023/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vu án ra xet xư số 55/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đan P, sinh năm 2000; (Có đơn xin xet xư vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1994; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hoà giải, nguyên đơn bà Trần Thị Đan P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tấn C tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tai Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 08 tháng 5 năm 2019. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống với nhau rất hanh phúc nhưng sau đó không hanh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn: Hai vợ chồng thường bất đồng quan điểm và hay cãi nhau, không hợp nhau. Tình cảm vợ chồng bị ran nứt, không còn hàn gắn được nữa. Hiện tai, bà và ông C không còn chung sống với nhau, cuộc sống hai vợ chồng không còn hanh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, muc đích hôn nhân không đat được, đời sống chung không thể tiếp tuc keo dài. Vì vậy, bà quyết định ly hôn với ông Nguyễn Tấn C.
Về con chung: Bà và ông C có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Nhã U, sinh ngày 07/8/2020. Hiện tai, cháu Nguyễn Trần Nhã U đang sống cùng bà P. Nếu được Tòa án cho ly hôn với ông C, bà xin được quyền nuôi con chung Nguyễn Trần Nhã U và không yêu cầu ông Nguyễn Tấn C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà Trần Thị Đan P có đơn đề nghị Tòa án xet xư vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Trong bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hoà giải, bị đơn Nguyễn Tấn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời khai của bà Trần Thị Đan P về thời gian sống chung, kết hôn. Việc chung sống giữa ông và bà P là do hai người tự nguyện, có đăng ký kết hôn tai Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 08 tháng 5 năm 2019. Thời gian đầu chung sống với nhau thì hanh phúc, nhưng sau đó thì không hanh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do ông thấy bà P ân tin nhắn zalo với người đàn ông khác, trong lúc say ông không làm chủ được bản thân nên có xảy ra xô xát. Ông nhận thấy cuộc sống hai vợ chồng còn hanh phúc, ông còn thương vợ và con. Vì vậy, với yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Đan P, ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông và bà Trần Thị Đan P có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Nhã U, sinh ngày 07/8/2020. Hiện tai, con chung Nhã U đang sống cùng ông C. Nếu được Toà án giải quyết cho ly hôn, ông xin được quyền nuôi con chung Nhã Uyên và không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn bà Trần Thị Đan P.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xet xư không thể xem xet ý kiến của bị đơn tai phiên tòa.
Đai diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thu lý, chuân bị xet xư và tai phiên tòa, Thâm phán, Hội thâm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tung đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tuc và thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tung dân sự.
- Về việc giải quyết vu án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Đan P và ông Nguyễn Tấn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa bà P và ông C là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, muc đích hôn nhân không đat được nên bà P yêu cầu được ly hôn. Bị đơn ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, xet thấy ông C không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xet xư chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Ông C và bà P có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Nhã U, sinh ngày 07/8/2020. Do cháu Nguyễn Trần Nhã U còn nhỏ, để không ảnh hương tâm sinh lý và sự phát triển bình thường về sau của trẻ nên đề nghị Hội đồng xet xư giao con chung Nguyễn Trần Nhã U cho bà Trần Thị Đan P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Đan P không yêu cầu ông Nguyễn Tấn C cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Trần Nhã U nên đề nghị Hội đồng xet xư ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xet.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Đan P là có cơ sơ nên đề nghị Hội đồng xet xư chấp nhận và không kiến nghị khắc phuc hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xet tai phiên toà, kết quả tranh tung tai phiên toà. Hội đồng xet xư nhận định như sau:
Về thâm quyền giải quyết: Yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Đan P về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tai khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tung dân sự năm 2015; hiện bị đơn ông Nguyễn Tấn C đang thường trú tai xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn bà Trần Thị Đan P có đơn khơi kiện tai Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tai điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tung dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Trần Thị Đan P có đơn đề nghị Tòa án xet xư vắng mặt theo quy định của pháp luật. Toà án đã tống đat hợp lệ các văn bản tố tung như: Quyết định đưa vu án ra xet xư, quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho bị đơn ông Nguyễn Tấn C, nhưng ông C vắng mặt tai phiên toà sơ thâm. Do vậy, Toà án căn cứ vào các Điều 5, 6, 91, 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tung dân sự để giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trần Thị Đan P và bị đơn ông Nguyễn Tấn C chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tai Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tin tương lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hanh phúc, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn.
Theo biên bản xác minh tai Ủy ban nhân dân xã T, huyện P ngày 01 tháng 6 năm 2023 thì ông C và bà P chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tai Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Nguyên nhân phát sinh của việc tranh chấp ly hôn giữa ông C và bà P thì chính quyền địa phương không nắm rõ, do đương sự giải quyết nội bộ, cũng không trình báo sự việc hay đề nghị chính quyền địa phương can thiệp giải quyết.
Hội đồng xet xư xet thấy, mâu thuẫn vợ chồng bà P và ông C đã trầm trong, đời sống chung không thể keo dài, muc đích hôn nhân không đat được nên Hội đồng xet xư xem xet chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Đan P được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Tấn C theo quy định tai khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông C và bà P có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Nhã U, sinh ngày 07/8/2020.
Hội đồng xet xư xet thấy, cháu Nguyễn Trần Nhã U còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ và để không ảnh hương tâm sinh lý, sự phát triển bình thường về sau của trẻ nên Hội đồng xet xư giao cháu Nguyễn Trần Nhã U cho bà Trần Thị Đan P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu, điều kiện nuôi dưỡng con chung của bà Trần Thị Đan P.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Đan P không yêu cầu ông Nguyễn Tấn C phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Trần Nhã U nên Hội đồng xet xư ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xet xư không đặt ra xem xet.
Đề nghị của đai diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xet xư chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thâm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYÊT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tung dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86 và 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xư:
1. Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Đan P đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn C về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Đan P được ly hôn với ông Nguyễn Tấn C.
3. Về con chung:
3.1. Giao con chung Nguyễn Trần Nhã U, sinh ngày 07/8/2020 cho bà Trần Thị Đan P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo duc.
3.2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Đan P không yêu cầu ông Nguyễn Tấn C cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Trần Nhã U.
3.3. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trơ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo duc con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vu thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo duc con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lam dung việc thăm nom để cản trơ hoặc gây ảnh hương xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo duc con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án han chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3.4. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định pháp luật.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xet xư không xem xet.
5. Về án phí: Bà Trần Thị Đan P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thâm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tam ứng án phí do bà Trần Thị Đan P đã nộp theo Biên lai thu tam ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0005106 ngày 30 tháng 3 năm 2023 tai Chi cuc Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời han 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Phú Giáo; - Chi cuc THADS huyện Phú Giáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vu án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Ân |