- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA 53 12.5.2023 - Nguyễn Thị Kim A - Cao Xuân C (Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn anh Cao Xuân C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/5/2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức H
Ông Trần Văn Đ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Thanh D – Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Y – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 503/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1987
Địa chỉ thường trú: Thôn 2, xã Đ, huyện M, tỉnh Q.
Địa chỉ tạm trú: C2/8 D1 tổ 2 ấp 3 đường D, xã V, huyện B, thành phố H
- Bị đơn: Anh Cao Xuân C, sinh năm 1982
Địa chỉ thường trú: Thôn 2, xã Đ, huyện M, tỉnh Q.
Địa chỉ tạm trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Chị Kim Anh có mặt, anh Cảnh vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai các lời khai tại Tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A trình bày:
- Chị Kim A và anh Cao Xuân C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Q cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống tại huyện N, tỉnh Đồng Nai. Từ khoảng năm 2011, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh C thường chơi cờ bạc lô đề. Chị A đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh C không thay đổi. Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc.
Do mâu thuẫn đã trầm trọng, chung sống với nhau không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Xuân C.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Cao Anh H, sinh ngày 12/9/2009, Cao Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 29/7/2015. Sau khi ly hôn yêu cầu giao 02 con cho chị nuôi dưỡng, tạm thời chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị cam kết không có nợ chung.
Anh Cao Xuân C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ 2 không có lý do, không cung cấp bản khai ý kiến cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Kim A; giao con chung cho chị Kim A nuôi dưỡng, tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung chị Kim A khai không có nên không xem xét. Về án phí buộc chị Kim A phải chịu theo luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tư cách tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Kim A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Xuân C, tranh chấp việc nuôi con; anh C có địa chỉ cư trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật của vụ án là: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt đến lần thứ 2 không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Kim A, anh C có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết, việc kết hôn chị Kim A khai do cả hai tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Chị Kim A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Cao Xuân C với lý do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh C thường xuyên cờ bạc lô đề.
Xét thấy, theo lời khai của chị Kim A thì cuộc sống hôn nhân của chị và anh C đã có mâu thuẫn trầm trọng không thể hòa giải được, vợ chồng không còn yêu thương lẫn nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh C đến Tòa hòa giải đoàn tụ nhưng anh không chấp hành, cho thấy thái độ bỏ mặc, không tích cực hàn gắn tình cảm, giải quyết mâu thuẫn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim A, xử cho chị được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về nuôi con chung: Qua lời khai của chị Kim A và qua xác minh địa phương thì chị và anh C có 02 con chung cháu Cao Anh H, sinh ngày 12/9/2009 và Cao Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 29/7/2015. Chị Kim A yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, quyền được nuôi dưỡng, giáo dục con chung là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, theo lời trình bày của chị Kim A thì anh C có lối sống không lành mạnh. Ngoài ra, anh C cũng không thực hiện quyền lợi của mình đến Tòa án trình bày ý kiến bản thân về vấn đề nuôi dưỡng con chung. Trong khi đó, chị Kim A có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, đủ khả năng kinh tế để nuôi con. Cháu H và D cũng có nguyện vọng được sống với chị Kim A. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là đảm bảo sự phát triển cho trẻ, phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Kim A không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Kim A khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Kim A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn anh Cao Xuân C.
Xử cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn anh Cao Xuân C.
Về nuôi con chung: Giao cháu Cao Anh H, sinh ngày 12/9/2009 và Cao Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 29/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì quyền lợi ích con chung khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim A khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0008422 ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai, chị Kim A đã nộp đủ án phí.
3. Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Cao Xuân C được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS; - Chi cục THADS; - UBND xã - Lưu AV, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy T |