vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị QTĐ được ly hôn anh QVT.

Về con chung: Giao cho chị QTĐ trực tiếp nuôi dưỡng cháu QĐH, sinh ngày 25/4/2014. Anh QVT không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn số 53"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị QTĐ được ly hôn anh QVT.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA
__________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-5-2023.
V/v: Ly hôn giữa chị Đ và anh
T.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: 1 – Ông Quàng Văn Mầng. 2 – Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên. Ngày 29/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa: 1. Nguyên đơn: Chị QTĐ, sinh năm 1993. Trú tại: Tiểu khu PT, thị trấn IO, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt. 2. Bị đơn: Anh QVT, sinh năm 1986. Trú tại: Tiểu khu PT, thị trấn IO, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Hiện cai nghiện tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt. 3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Trọng Dương – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị QTĐ trình bày:

Chị và anh QVT kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 26/12/2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn IO, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh QVT không chăm lo xây dựng gia đình và đi vào con đường nghiện ma túy. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Hiện cai nghiện tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Từ đó hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị QTĐ xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh QVT.

Về con chung: Có một con là QĐH, sinh ngày 25/4/2014. Chị xin được nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu anh QVT phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị QTĐ công nhận nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mường La số tiền 100.000.000, đồng nhất trí là người trả.

Bị đơn anh QVT trình bày:

Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị QTĐ và anh QVT. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị QTĐ. Nay chị QTĐ yêu cầu ly hôn anh xin đoàn tụ gia đình.

Về con chung: Có một con là QĐH, sinh ngày 25/4/2014, do anh đang đi cai nghiện đồng ý để vợ nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mường La số tiền 100.000.000, đồng nhất trí để vợ trả.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện Mường La, tỉnh Sơn La trình bày:

Căn cứ sổ vay vốn mã khách hàng 7102238113, ngày 12/7/2020 Ngân hàng cho gia đình chị QTĐ và anh QVT vay theo chương trình hộ nghèo, số tiền gốc vay là 100.000.000, đồng. Nay hai người ly hôn Ngân hàng yêu cầu chị QTĐ là người có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc là 100.000.000, đồng và lãi phát sinh.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a

2

khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ để xử cho chị QTĐ được ly hôn anh QVT.

Con Chung: Giao cho chị QTĐ trực tiếp nuôi dưỡng cháu QĐH, sinh ngày 25/4/2014. Anh QVT không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị QTĐ có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mường La, tỉnh Sơn La: Khoản vay ngày 12/7/2020 số tiền vay gốc 100.000.000, đồng (một trăm triệu đồng) và lãi phát sinh.

Chị QTĐ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị đơn anh QVT sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã khai trình bầy nguyện vọng, anh QVT đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng có xác nhận của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La và đã triệu tập xét xử hợp lệ có đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn chị QTĐ, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện Mường La, tỉnh Sơn La đều có đơn đề nghị xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định của Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị QTĐ và anh QVT có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do anh QVT không chăm lo xây dựng gia đình và đi vào con đường nghiện ma túy. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị QTĐ và anh QVT đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị QTĐ yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị QTĐ được ly hôn anh QVT.

Về con chung: Có một con là QĐH, sinh ngày 25/4/2014. Căn cứ vào nguyện vọng của con muốn ở với mẹ, do hiện anh QVT đang đi cai nghiện không thể trực tiếp nuôi con. Cần giao cháu QĐH cho chị QTĐ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị QTĐ không yêu cầu anh QVT phải cấp dưỡng nuôi con, cần chấp nhận, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

3

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Khoản nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mường La được xác định là khoản vay nợ về xây dựng gia đình nằm trong chương trình hỗ trợ hộ nghèo. Hiện xác định chị QTĐ nhất trí thanh toán trả nợ, đồng thời đại diện Ngân hàng cũng có yêu cầu chị QTĐ là người có trách nhiệm trả nợ gốc là 100.000.000, đồng và lãi phát sinh. Theo quy định Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị QTĐ có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mường La số tiền vay gốc là 100.000.000, đồng và lãi phát sinh.

Chị QTĐ đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị QTĐ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

1. Xử cho chị QTĐ được ly hôn anh QVT.

2. Về con chung: Giao cho chị QTĐ trực tiếp nuôi dưỡng cháu QĐH, sinh ngày 25/4/2014. Anh QVT không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung:

Chị QTĐ có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mường La, tỉnh Sơn La: Khoản vay ngày 12/7/2020 số tiền vay gốc 100.000.000, đồng (một trăm triệu đồng) và lãi phát sinh. Theo sổ vay vốn mã khách hàng 7102238113.

5. Về án phí: Chị QTĐ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003829 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Chị QTĐ, anh QVT, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mường La được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ