vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Lệ T được ly hôn với anh Thân Văn L.

Về con chung: Chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Trần Lệ T và Thân Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Lệ T được ly hôn với anh Thân Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A, TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2023
V/v tranh chấp "Ly hôn "

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Hoa

2. Ông Nguyễn Tấn Để

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K: Bà Lai Thị Ngọc Mãi – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 19/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Lệ T, sinh năm 1990.

HKTT: Ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

Chổ ở hiện nay: Ấp 15, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Thân Văn L, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

(Chị T có mặt, anh L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Lệ T trình bày:

Vào năm 2017, do mai mối chị có kết hôn với anh Thân Văn L tiến tới hôn nhân (có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cấp ngày 30/11/2017, tại UBND xã Đ, huyện A). Trong quá trình chung sống hơn 1 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẩn do không hòa hợp nhau về mọi mặt, mỗi lần cự cải anh L đều dùng bạo lực và dùng hung khí đe dọa. Vì hôn nhân đã một lần đỗ vỡ nên chị cũng cố gắn chịu đựng nhưng thời gian kéo dài anh L vẫn không sửa đổi nên đến năm 2019 chị bỏ đi làm ở L. Đến năm 2021 chị có làm đơn gửi đến Tòa án, sau đó Tòa án có mời lên giải quyết thì chị bận đi làm xa không về được, nay chị yêu cầu tiếp tục xin ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Thân Văn L.

Về quan hệ con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Thân Văn L không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Lệ T, mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

- Chị T: Vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; về con chung; tài sản chung, nợ chung: chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh L: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Lệ T được ly hôn với anh Thân Văn L. Về con chung; về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Thân Văn L là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh đã vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L trong vụ án này.

Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị T và anh L là hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị T nguyên nhân là do không hòa hợp nhau về mọi mặt, mỗi lần cự cải anh L đều dùng bạo lực và dùng hung khí đe dọa. Vì hôn nhân đã một lần đỗ vỡ nên chị cũng cố gắn chịu đựng nhưng thời gian kéo dài anh L vẫn không sửa đổi nên đến năm 2019 chị bỏ đi làm ở L. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn nên chị yêu cầu xin ly hôn.

Anh L không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị T đưa ra. Mặc dù Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh L bỏ mặc không có văn bản thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình. Đồng thời, anh chị đã có thời gian ly thân khá lâu nhưng vẫn không thể hàn gắn đoàn tụ. Phía chị T thì kiên quyết xin ly hôn. Do đó, đã đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng của chị T và anh L đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có, anh L không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Trần Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Lệ T được ly hôn với anh Thân Văn L.

2. Về con chung: Chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Trần Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001090 ngày 09/02/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K. Xem như chị T đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Trần Lệ T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Thân Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ