vanban.org

Bản án 53/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc C.

Buộc anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Quốc C số tiền là 48.000.000 đồng (bốn mươi tám triệu đồng). Kể từ ngày anh Nguyễn Quốc C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng anh E, chị O còn phải chịu th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Quốc C - Hứa Thị O"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————
———————————————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/DS-ST
Ngày 30 - 3 - 2022
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Ông Trần Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 19/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc C, sinh năm 1973; cư trú tại: Ấp CT, xã NH, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Hồ Minh E (Út E); cư trú tại: Ấp CT, xã NH, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Hứa Thị O; cư trú tại: Ấp CT, xã NH, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Nguyễn Quốc C trình bày: Trước đây, anh E và chị O có làm chủ hụi, anh có tham gia chơi trong các dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 30/01/2020, mỗi tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 50 chưng, anh tham gia 01 phần. Trong quá trình chơi hụi, anh đóng được 48 kỳ thì anh E, chị O bỏ địa phương. Số tiền thực đóng của mỗi kỳ hụi cụ thể bao nhiêu thì anh không nhớ. Số tiền còn nợ anh là 48 kỳ x 1.000.000đ = 48.000.000đ. Nay anh yêu cầu ông E và bà O trả số tiền 48.000.000đ.

Đối với anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh chị không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của anh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Quốc C khởi kiện yêu cầu anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O trả tiền nợ hụi là vụ kiện tranh chấp hụi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tung: Anh C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh E và chị O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh C, anh E, chị O.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các đương sự có tham gia chơi hụi và anh E, chị O còn nợ tiền hụi 48.000.000đ là thực tế có xãy ra. Xét thấy: Anh E và chị O là chủ hụi, còn anh C là hụi viên. Trong quá trình chơi hụi, anh C đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng hụi cho anh E, chị O. Với vai trò là chủ hụi, anh E, chị O là người bảo lãnh cho các hụi viên tham gia. Cho nên, trong quá trình chơi hụi nếu hụi bị bể hay bị hụi viên hốt mà không đóng hụi lại hoặc đình hụi thì anh E, chị O phải chịu trách nhiệm đối với các hụi viên. Như vậy, việc anh E, chị O tự đình hụi thì anh chị phải có trách nhiệm trả tiền hụi lại cho hụi viên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh C là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Đối với anh E, chị O: Mặc dù anh, chị đã biết được nội dung, yêu cầu khởi kiện của anh C nhưng anh, chị không có ý kiến, không đưa ra chứng cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để xét xử là phù hợp với khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Xét về án phí dân sự: Anh E và chị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 91; Điều 5; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc C.

1. Buộc anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Quốc C số tiền là 48.000.000 đồng (bốn mươi tám triệu đồng).

2. Kể từ ngày anh Nguyễn Quốc C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng anh E, chị O còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Về án phí dân sự:

3.1. Anh Nguyễn Quốc C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh C 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0013526 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

3.2. Anh Hồ Minh E và chị Hứa Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.400.000 đồng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ