vanban.org

Bản án 53/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Đại H đối với bị đơn vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh , về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Trần Đại H số tiền nợ là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông H có đơn yêu cầu thi hành án, vợ chồng ông S và bà Gh còn phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Đại H đối với bị đơn vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh , về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/DS-ST
Ngày: 23 - 6 - 2023
V/v Tranh chấp hợp
đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu Khánh Long.

2. Bà Thái Tín Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 210/2022/TLST-DS, ngày 18 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2023/QĐST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Đại H , sinh năm 1973.

Địa chỉ: Số nhà 034 khóm Tr , phường Kh , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện của nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh Th , sinh năm 1995; là người đại diện theo ủy quyền (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 034 khóm Tr , phường Kh , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn:

- Ông Dương Văn S , sinh năm 1975 (vắng mặt).

- Bà Trần Thị Gh , sinh năm 1978 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số 166 ấp V , xã V , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/8/2022 của nguyên đơn và tại đơn xin giải quyết vắng mặt, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền chị Nguyễn Minh Th trình bày:

Vào năm 2019, ông Trần Đại H có giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm hiệu Việt Hoa và thuốc nuôi Tôm với ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh .

Theo thỏa thuận, ông H sẽ cung cấp thức ăn và thuốc, hóa chất nuôi Tôm cho vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh thông qua hợp đồng mua bán nhưng vì thời gian lâu nên hợp đồng bị thất lạc, đến ngày 01/01/2021. Ngoài ra, hai bên giao dịch mua bán thông qua sổ giao nhận hàng hóa.

Theo thỏa thuận, từ ngày 12/10/2019, ông H bán thức ăn và thuốc thủy sản cho ông S và bà Gh . Hàng hóa được nhân viên giao tận nơi hoặc ông S và bà Gh đến lấy, được kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa trước khi nhận, có đổi chiếu công nợ khi có yêu cầu. Về phương thứ thanh toán, hai bên thống nhất là đến cuối vụ thu hoạch Tôm sẽ thanh toán hết tiền hàng. Trường hợp công nợ cao, ông S và bà Gh không thanh toán tiền hàng thì ông H có quyền cắt hàng và đề nghị thanh toán toàn bộ số nợ còn lại.

Ông H đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, ông S và bà Gh nhận hàng không có phản ánh hay phàn nàn gì về chất lượng, số lượng, chủng loại hàng hóa. Tuy nhiên, ông S và bà Gh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, hiện nay còn nợ ông H số tiền là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Nay ông Trần Đại H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh phải thanh toán cho ông H số nợ là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Đối với bị đơn ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh : Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành làm việc với ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh . Ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh , thừa nhận vợ chồng ông S và bà Gh có mua thức ăn nuôi Tôm của ông Trần Đại H , hiện nay vợ chồng bà còn thiếu của ông H số tiền là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng). Do nuôi tôm bị thua lỗ nên vợ chồng ông S và bà Gh không có khả năng thanh toán một lần hết số tiền nợ này mà xin gia hạn đến khi có thu hoạch Hành hoặc Tôm thì mới có khả năng trả cho ông H số nợ này. Ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh cũng trình bày gia đình ông S và bà Gh không phải hộ nghèo, hộ cận nghèo; không thuộc đối tượng có công với cách mạng, gia đình Liệt sĩ.

Phiên tòa ngày 01/6/2023, ông S và bà Gh vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn vắng mặt, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ tranh chấp. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn vợ chồng ông S và bà Gh có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Trần Đại H số nợ mua thức ăn nuôi Tôm còn thiếu là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng). Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về tố tụng: Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Xét hợp đồng mua bán tài sản được giao kết giữa nguyên đơn là ông Trần Đại H và bị đơn là ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh là thực tế và là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, đây là giao dịch dân sự được quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại đơn xin vắng mặt, người đại diện theo ủy của nguyên đơn có trình bày rõ các yêu cầu của mình và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người đại diện theo ủy của nguyên đơn và các bị đơn.

Việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết:

Hai bên đã thực hiện việc mua bán tài sản như đã thỏa thuận, thể hiện theo lời trình bày của nguyên đơn, Biên bản xác nhận công nợ và sự không phản đối của bị đơn. Cụ thể là vào ngày 13/6/2022, hai bên tiến hành làm việc xác nhận công nợ là vợ chồng ông S và bà Gh thừa nhận còn nợ của ông H số tiền là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhưng vợ chồng ông S và bà Gh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông H , đối chiếu với các quy định pháp luật, đối chiếu với bản xác nhận công nợ và lời thừa nhận của vợ chồng ông S và bà Gh . Từ các căn cứ nêu trên, đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, có cơ sở khách quan để kết luận việc giao dịch dân sự giữa các bên đối với việc mua bán tài sản và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng) là có căn cứ. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nêu trên cho nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Hiệp có đơn yêu cầu thi hành án, vợ chồng ông S và bà Gh còn phải liên đới trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng ông S và bà Gh phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Đại H đối với bị đơn vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh , về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Trần Đại H số tiền nợ là 172.622.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông H có đơn yêu cầu thi hành án, vợ chồng ông S và bà Gh còn phải liên đới trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Dương Văn S và bà Trần Thị Gh phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.631.100đ (tám triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn một trăm đồng).

- Ông Trần Đại H không phải chịu án phí; hoàn trả cho ông Hiệp số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.315.550đ (bốn triệu ba trăm mười lăm nghìn năm trăm năm mươi đồng) theo Biên lai thu số 0006003 ngày 18/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ