- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HS-ST Ngày: 08-4-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Mẫn
Ông Huỳnh Hoàng Khởi
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Quách Quang Bảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, tại Bạc Liêu; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp R, xã Đ, huyện H, tỉnh L; chỗ ở: ấp 2, xã T, thành phố C, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thời và bà Lâm Thị T; vợ: Trần Kim Thuyền, con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam từ ngày 20/10/2021 đến nay. (Có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Văn H, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp 2, xã T, thành phố C, tỉnh C . (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 21/8/2021, bị hại Nguyễn Văn H cùng với bị cáo Nguyễn Văn T tổ chức nhậu tại khu đất trống thuộc ấp 2, xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị cáo chở bị hại về nhà bị hại, còn bị cáo về nhà bị cáo, nhà bị cáo ngang nhà bị hại. Khi về nhà, bị cáo nghe bà Nguyễn Thị Mỹ T, là vợ bị hại chửi “mấy thằng chó đẻ, sáng sớm rủ đi ăn nhậu”. Nghe bà T chửi nên bị cáo sang nhà bị hại chửi nhau với bà T thì bà T nói: “Tao không có nói mày, tao chửi chồng tao”. Lúc này, bị hại ra can ngăn, dùng tay sô vào vay bị cáo và chửi “Đụ mẹ, mày xỉn rồi về ngủ đi”. Cùng lúc này bị hại kêu bà T vào nhà nhưng bà T vẫn cứ chửi thì bị cáo nói với ông H “ông phải dằn xếp vụ này chứ chửi hoài một hồi tao chém chết mẹ”, nói xong, bị cáo về nhà ăn cơm nhưng bà T cứ đứng trước lộ tiếp tục chửi nên bị cáo tức giận bị hại để cho vợ chửi hoài và bị cáo nhớ lại câu nói bị hại chửi bị cáo nên bị cáo lấy dao sang nhà của bị hại chém bị hại, bị hại đưa tay trái lên đở thì bị đứt ở khủyu tay trái. Sau khi chém bị hại, bị cáo mang dao về nhà rồi lên Công an xã trình báo sự việc. Bị hại được bà T và vợ của bị cáo là bà Trần Kim Thuyền băng bó vết thương và đưa vào Bệnh viện Đa khoa Cà Mau điều trị.
Công an thu giữ 01 cây dao bằng kim loại màu đen, có cán và lưởi bằng kim loại dài 33cm, đường kính cán 03cm, chiều rộng nhất 07cm, mũi nhọn, một bề lưỡi sắc bén.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 244/TgT-21 ngày 16/9/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn H do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 34%.
Bản cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 15/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 66.100.000 đồng. Trong đó: Chi phí khám chữa bệnh: 4.100.000 đồng (đã đối trừ số tiền bị cáo khắc phục 5.400.000 đồng). Tiền ăn của người bệnh và người nuôi bệnh: 400.000 đồng x 02 người x 05 ngày = 2.000.000 đồng. Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 60 ngày x 200.000 đồng = 12.000.000 đồng. Thu nhập thực tế bị mất của người bệnh: 182 ngày x 250.000 đồng = 45.000.000 đồng. Chi phí và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc và người bệnh: 06 ngày x 250.000 đồng x 02 người = 3.000.000 đồng
Về trách nhiệm hình sự: Yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 5.400.000 đồng. Không đồng ý bồi thường chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 60 ngày x 200.000 đồng = 12.000.000 đồng. Các khoản còn lại, bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 57.600.000 đồng. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen, có cán và lưởi bằng kim loại dài 33cm, đường kính cán 03cm, chiều rộng nhất 07cm, mũi nhọn, một bề lưỡi sắc bén.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo xin lỗi bị hại. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ ngày 21/8/2021, tại ấp 2 xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, vì mâu thuẫn trong lời nói, bị cáo đã dùng dao chém vào tay trái gây thương tích cho bị hại Nguyên Văn H với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 34%.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ việc dùng dao là hung kh nguy hiểm, chém vào tay có thể gây tổn thương sức khỏe người khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý và thực tế đã gây thương t ch cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34%. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại một cách trái pháp luật, nên cần xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo được giáo dục, cải sửa lỗi lầm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Với những phân tích tại mục [4] thì việc áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bồi thường cho bị hại tổng số tiền 54.100.000 đồng nên ghi nhận sự thỏa thuận này giữa bị cáo và bị hại.
Đối với chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe 12.000.000 đồng, bị hại yêu cầu nhưng bị cáo không thống nhất. Xét thấy, tại hồ sơ bệnh án và giấy ra viện bác sĩ không chỉ định của bác sĩ về việc phải bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe. Do đó, đây là yêu cầu không phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 nên không được chấp nhận.
Đối với các khoản: Tiền xe đến bệnh viện, tiền xe đi tái khám, tiền thiệt hại về tinh thần, tại phiên tòa, bị hại không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen, có cán và lưởi bằng kim loại dài 33cm, đường kính cán 03cm, chiều rộng nhất 07cm, mũi nhọn, một bề lưỡi sắc bén.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị hại được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 04 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/10/2021.
- Căn cứ các Điều 584, 589, 590 Bộ luật dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn H số tiền 54.100.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bị hại về việc buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen, có cán và lưởi bằng kim loại dài 33cm, đường kính cán 03cm, chiều rộng nhất 07cm, mũi nhọn, một bề lưỡi sắc bén (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2022).
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.705.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp.Cà Mau; - Công an Tp.Cà Mau; - Chi cục THADS Tp.Cà Mau; - Hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trƣơng Thanh Quốc |