vanban.org

Bản án 53/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 20(Hai mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã 22/12/2021. Về dân sự: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HS-ST
Ngày: 07/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Chuyển

2. Ông Phạm Minh Thân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Bà Nguyễn Thị K Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 07/4/2022 tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 42/2022/HSST, ngày 07 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐXX ngày 23 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, Sinh năm: 1987. NKTT: Xóm 12, xã K, huyện K Sơn, tỉnh N Bình. Văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Bố đẻ; Ông Nguyễn Văn Đ, mẹ đẻ: Bà Trần Thị H. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Trần Thị H1, có 01 con SN: 2015.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 22/12/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Vũ Thanh V, Sinh năm 1988.

HKTT: Thôn N, xã Minh Hải, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, Sinh năm: 1991.

HKTT: số 69 ngõ 260 CG, phường Q, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt anh V, anh H)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17giờ ngày 05/09/2017, anh Vũ Thanh V một mình điều khiển xe máy Yamaha Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, có BKS: 34E1-212.22 đến quán game có địa chỉ số 19 ngõ 59 đường Lê Đức Thọ, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Khi đến nơi anh V dựng xe trước cửa quán, xe không khóa cổ, không khóa càng xe và không có ai trông giữ. Anh V vào trong quán game để chơi game có để chùm chìa khóa xe máy ở trên bàn cạnh bàn phím. Sau đó, anh V đi vào nhà vệ sinh khoảng 10 phút thì nghe thấy tiếng xe máy nổ và tiếng xe đi khỏi quán game. Anh V đi ra ngoài phát hiện thấy nam thanh niên chơi game ở máy tính số 19 đã bỏ đi và chiếc xe máy anh V để trước cửa quán game đã bị mất. Sau đó, anh V kiểm tra camera của quán thì nhìn thấy hình ảnh nam thanh niên chơi game ở máy tính số 19 đã lấy chìa khóa xe anh V để trên bàn máy chủ rồi mở ổ khóa điện của chiếc xe máy Yamaha Exciter, BKS: 34E1-212.22 của anh V rồi điều khiển xe đi khỏi quán. Biết bị nam thanh niên này trộm cắp xe máy, anh V đã kiểm tra các thông tin Zalo tại máy tính số 19 thì anh V có được thông tin của người vừa chơi game có Họ và tên: Nguyễn Văn N và 01 ảnh chụp biên bản xác nhận công nợ giữa Nguyễn Văn N với anh Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty CPTM - Phú Thái, Thành Công.

Chiều ngày 6/9/2017, Anh V liên hệ đến tài khoản zalo trên thì N có nói cho V biết đã lấy trộm xe máy của anh V và bán cho một nam thanh niên có số điện thoại xxxxxxxxxx được 13.500.000đồng. Sau đó anh Vũ Thanh V đã trình báo cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận Nam Từ Liêm đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn Thành, xác định khoảng cuối năm 2016 và đầu năm 2017 anh Thành có làm ăn với Nguyễn Văn N giữa hai bên có làm một biên bản xác nhận công nợ, anh Thành có cung cấp cho cơ quan điều tra 01 ảnh chân dung của Nguyễn Văn N trước đây đã nộp kèm hồ sơ làm việc tại Công ty anh Thành.

Qua xác minh số điện thoại xxxxxxxxxx, xác định chủ thuê bao là Nguyễn Văn H, tiến hành làm việc với H. Tại cơ quan điều tra, H khai: Do có nhu cầu mua một chiếc xe máy cũ để sử dụng nên khoảng 21h00 ngày 05/092017, anh H vào mạng xã hội Facebook để tìm mua xe máy cũ thì thấy trang Hội mua bán xe máy cũ giá sinh viên có đăng bán xe máy Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen, BKS: 34E1: 212.22, khi nhìn hình ảnh xe máy thấy phù hợp với loại xe anh H đang cần tìm mua để sử dụng nên anh H đã để lại số điện thoại của mình để người bán liên hệ. Sau đó, có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại: xxxx.xxx.xxx gọi điện thoại cho anh H thỏa thuận việc mua bán xe và hẹn đến khu vực ngã tư Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội. Khoảng 10h ngày 06/09/2017, anh H đến khu vực ngã tư Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội gặp nam thanh niên trên, anh H xem và kiểm tra xe, nam thanh niên nói xe máy trên là của anh ta, đang cần tiền nên bán. Anh H hỏi về giấy tờ xe thì nam thanh niên nói xe có đủ giấy tờ nhưng đang nộp cho Công an để làm thủ tục rút giấy tờ gốc. Anh H kiểm tra xe thì thấy số khung, số máy, khóa xe không bị phá nên anh H tin tưởng đây là xe của nam thanh niên trên. Lúc đầu, nam thanh niên muốn bán xe với giá 25.000.000đồng nhưng vì chưa đủ giấy tờ xe nên anh H không đồng ý trả hết tiền, H trả trước cho nam thanh niên này 13.500.000đồng, khi nào nam thanh niên này đưa đầy đủ giấy tờ sẽ trả đủ số tiền. Anh H yêu cầu nam thanh niên này viết giấy tờ mua bán nhưng nam thanh niên này nói hôm sau giao đủ giấy tờ cho H thì sẽ viết luôn, thấy hợp lý nên anh H đã đồng ý mua, sau khi giao tiền xong, anh H mang xe về nhà. Tại cơ quan điều tra, anh H được thông báo chiếc xe máy anh H mua là xe vật chứng của vụ Trộm cắp tài sản nên đã tự nguyện giao nộp chiếc xe để phục vụ điều tra.

Tiến hành xác minh thông tin lý lịch, xác định được đối tượng là Nguyễn Văn N. Tiến hành cho nhận dạng, kết quả: Anh Vũ Thanh V, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn Thành đã nhận dạng chính xác được Nguyễn Văn N.

Ngày 08/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm ra quyết định Khởi tố vụ án hình sự, ngày 30/01/2018 ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn N về hành vi Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật HÌnh sự. Do bị cáo trốn nên ngày 02/2/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm ra quyết định Truy nã bị can số 06 đối với Nguyễn Văn N

Ngày 22/12/2021, Công an quận Đống Đa bắt Nguyễn Văn N theo quyết định truy nã bị can số 06 ngày 02/02/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm.

Vật chứng thu giữ:

1. Thu của Nguyễn Văn H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, đen trắng, BKS: 34E1 – 212.22, SK: 0610HY449326, SM: GED4E470243 (BL53).

2. Thu của Nguyễn Văn N: 01 điện thoại Redmi màu xanh; 01 căn cước mang tên Nguyễn Văn N (BL 22).

Tại Kết luận định giá tài sản số 282/KLĐGTS ngày 12/9/2017, của hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: Xe máy Yamaha Exciter, màu sơn trắng - đỏ - đen, BKS: 34E1-212.22, số khung: 0610HY449326, số máy: GED4E470243, đăng ký lần đầu ngày 23/5/2017. Trị giá là 40.000.000đồng.

Ngày 11 tháng 12 năm 2017, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại anh Vũ Thanh V chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, có BKS: 34E1-212.22, số khung: 0610HY449326, số máy: GED4E470243. Anh V nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự (BL 59, 60).

Đối với Nguyễn Văn H, có hành vi mua lại chiếc xe máy do Nguyễn Văn N trộm cắp được, tuy nhiên khi mua H không biết đây là tài sản do N trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra khác.

Bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 04/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Văn N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm được về với gia đình.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 15 đến 18 tháng tù. Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên miễn phạt tiền đối với bị cáo N.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua xe do đó cần buộc bị cáo nộp số tiền 13.500.000 đồng xung quỹ Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ Luật hình sự và Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại Redmi màu xanh; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn N vì không liên quan đến vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 05/9/2017, tại quán game có địa chỉ số 19 ngõ 59 đường Lê Đức Thọ, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Nguyễn Văn N có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, BKS: 34E1-212.22, số khung: 0610HY449326, số máy: GED4E470243, có trị giá 40.000.000 đồng của anh Vũ Thanh V.

Hành vi nêu trên của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử về hành vi chiếm đoạt nhưng có giá trị 40.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo N xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo N sau khi phạm tội cố tình trốn tránh pháp luật gây khó khăn trong quá trình điều tra. Căn cứ vào bản kết luận định giá tài sản số 282/KLĐGTS ngày 12/9/2017, của hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: Chiếc xe máy Yamaha Exciter, màu sơn trắng - đỏ - đen, BKS: 34E1-212.22, số khung: 0610HY449326, số máy: GED4E470243, đăng ký lần đầu ngày 23/5/2017. Trị giá là 40.000.000đồng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức được hành vi của mình là sai nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo suy nghĩ về những hành vi của bị cáo đã gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Cần trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại Redmi màu xanh; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn N vì không liên quan đến vụ án.

Về số tiền 13.500.000 đồng anh H không yêu cầu bị cáo N phải trả lại

cho anh H do đó cần buộc bị cáo N phải nộp số tiền 13.500.000đồng thu lời bất chính để xung quỹ Nhà nước.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 15 đến 18 tháng tù là đánh giá chưa đầu đủ về giá trị tài sản trộm cắp cũng như tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên xử mức án cao hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b, Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 20(Hai mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã 22/12/2021.

Về dân sự: Không.

Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại Redmi màu xanh; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn N. Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án quận Nam Từ Liêm theo Biên bản giao nhận vật chứng số 108 ngày 08/3/2022

Buộc bị cáo N phải nộp số tiền 13.500.000đồng thu lời bất chính để xung quỹ Nhà nước.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về án phí: Bị cáo N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật;

Cỡ chữ