vanban.org

Bản án 53/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 25/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Chu Tuấn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Tuấn A phạm tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HS-ST
Ngày 25 tháng 8 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích - Hiệu trưởng trường mầm non xã Yên Bình và ông Nguyễn Ngọc Triển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

1. Chu Tuấn A, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2001; Nơi ĐKHKTT: Xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn T, sinh năm 1978 và bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Có 01 tiền án Tại bản án số 86/2020/HSST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt Chu Tuấn A 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/01/2022, Chu Tuấn A chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ bản án.

Tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 04/8/2016, bị Công an huyện Vĩnh Tường Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

+ Tại bản án HSST số 57/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt Chu Tuấn A 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/01/2018 Chu Tuấn A đã nộp đủ tiền án phí.

+ Tại bản án HSST số 03/2018/HSST ngày 25/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt Chu Tuấn A 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 57/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc buộc Chu Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 15 tháng tù. Ngày 21/3/2018 Chu Tuấn A đã nộp đầy đủ tiền án phí và tiền truy thu.

+ Tại bản án số 08/2018/HSST ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt Chu Tuấn A 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 57/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc buộc Chu Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 02 tháng tù. Ngày 26/03/2018, Chu Tuấn A đã nộp đầy đủ tiền án phí.

+ Tại quyết định số 02 ngày 12/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã tổng hợp hình phạt của 03 bản án trên. Buộc Chu Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 11 tháng tù. Ngày 26/10/2019, Chu Tuấn A chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xử phạt Chu Tuấn A 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Hồng Ca, đã được trích xuất về tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)

Người bị hại:

1. Cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12/8/2014; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Hoàng T: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989 là bố cháu T; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt)

2. Cháu Lê Bảo Q, sinh ngày 06/12/2011; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật của cháu Lê Bảo Q: Anh Lê Đăng T, sinh năm 1990 là bố cháu Q; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Chu Văn T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; (bố bị cáo có mặt)

2. Bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; (mẹ bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung của hai vụ cướp giật tài sản được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 01/02/2022, Chu Tuấn A sinh ngày 19 tháng 5 năm 2001, trú tại thôn Hn, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH Mode, màu đen- xám, BKS: 88L1-674.51 đi từ nhà của mình ở thôn H, xã L đến thị trấn T, huyện V với mục đích là để tìm người nào đi trên đường có tài sản sơ hở thì cướp giật mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến đầu ngõ 20, đường Nguyễn Thái Học thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn T thì Chu Tuấn A nhìn thấy cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12/8/2014, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện V đang đứng ở đầu ngõ, trên tay cháu T đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh- đen. Thấy vậy, Chu Tuấn A đã nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại này của cháu T. Chu Tuấn A điều khiển xe mô tô dừng xe ở đầu ngõ cạnh vị trí cháu T đang đứng, rồi bảo cháu T cho mượn chiếc điện thoại để gọi điện, mục đích để tiếp cận tài sản. Cháu T đồng ý thì Chu Tuấn A đọc số điện thoại cho cháu T bấm số trên máy điện thoại. Sau khi cháu T bấm số điện thoại và đưa chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh- đen cho Chu Tuấn A thì Chu Tuấn A cầm chiếc điện thoại này ở tay trái giả vờ đưa lên tai bên trái để nghe điện thoại, sau đó Chu Tuấn A cầm theo chiếc điện thoại, nhanh chóng điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy thẳng vào bên trong ngõ, rồi đi về nhà ở của Chu Tuấn A tại xã L, huyện V. Đến sáng ngày 02/02/2022, Chu Tuấn A mang chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh- đen cướp giật được của cháu T đến cửa hàng điện thoại di động Hồng Phương ở thôn Mới, xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường bán chiếc điện thoại di động này cho anh Đỗ Văn P, sinh năm 1984 (là chủ cửa hàng) được số tiền 3.400.000đ. Số tiền này, Chu Tuấn A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Ngay sau khi bị Chu Tuấn A cướp giật mất chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh- đen, cháu T chạy vào trong nhà nói lại sự việc cho anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989 trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T (là bố cháu T) biết nhưng do bận công việc nên ngày 02/02/2022, anh T mới đến Công an thị trấn T trình báo sự việc.

Vụ thứ hai: Sau khi cướp giật được chiếc điện thoại di dộng của cháu T như đã nêu trên, đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 02/02/2022, Chu Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu vàng - nâu, BKS: 88L1-619.06 tiếp tục đi từ nhà của mình ở thôn H, xã L đến thị trấn T, huyện V để tìm người nào đi trên đường có tài sản sơ hở thì cướp giật mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến đầu ngõ 23, đường Phạm Ngọc Thạch thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Vĩnh Tường thì Chu Tuấn A nhìn thấy cháu Lê Bảo Q, sinh ngày 06/12/2011, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V đang đứng ở đầu ngõ, trên tay cháu Q đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen. Thấy vậy, Chu Tuấn A đã nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại này của cháu Q nên Chu Tuấn A dừng xe ở đầu ngõ, cạnh vị trí cháu Q đang đứng rồi bảo cháu Q cho Chu Tuấn A mượn điện thoại để gọi nhờ cuộc điện thoại nhưng cháu Q không đồng ý. Lúc này, Chu Tuấn A dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại của cháu Q đang cầm ở trên tay rồi nhanh chóng điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy về hướng đi xã L. Khi đi đến cửa hàng buôn bán điện thoại di động Quang Nhung ở tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V thì Chu Tuấn A dừng xe và đi vào bên trong cửa hàng rồi bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy A02, màu đen vừa cướp giật được của cháu Q cho chị Vũ Thị N, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố N, thị trấn T (là chủ cửa hàng) được số tiền 1.300.000đ. Số tiền này Chu Tuấn A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi bị Chu Tuấn A cướp giật mất chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A02, màu đen, cháu Q chạy vào trong nhà nói lại sự việc cho anh Lê Đăng Tuấn, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Bắc Cường, thị trấn T (là bố đẻ cháu Q), sau đó anh Tuấn đã đến công an thị trấn T trình báo sự việc.

Đến tối ngày 02/02/2022, Chu Tuấn A nghe được thông tin về việc mình cướp giật chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh- đen của cháu T đã bị một số người phát hiện và bị cơ quan Công an nghi ngờ nên Chu Tuấn A đã nói lại sự việc cho bố mẹ đẻ của Chu Tuấn A biết. Sau đó, Chu Tuấn A đã cùng ông Chu Văn T, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã L, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (là bố đẻ của Chu Tuấn A) đến cửa hàng điện thoại di động Hồng Phương ở thôn M, xã B, huyện V chuộc lại chiếc điện thoại hết số tiền 3.400.000đ, rồi Chu Tuấn A cùng với bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1976, trú tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (là mẹ đẻ của Chu Tuấn A) cầm theo chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh- đen vừa chuộc lại đi đến nhà anh Nguyễn Xuân T (bố cháu T) xin trả lại chiếc điện thoại cho gia đình anh T. Sau đó, anh T đã điện báo Công an thị trấn T đến giải quyết. Nhận được điện báo của anh T, Công an thị trấn T đã đến lập biên bản sự việc và thu giữ chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh- đen mà Chu Tuấn A đã cướp giật của cháu T như đã nêu trên. Quá trình làm việc với Công an thị trấn T, ngoài việc thừa nhận hành vi cướp giật chiếc điện thoại của cháu T vào ngày 01/02/2022, thì Chu Tuấn A còn khai nhận với Công an thị trấn T về hành vi cướp giật chiếc điện thoại di động của cháu Q vào ngày 02/02/2022.

Ngay sau khi lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng như đã nêu trên, Công an thị trấn T đã báo cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường, đồng thời chuyển toàn bộ tài liệu, vật chứng có liên quan cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường để tiến hành điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật. Sau khi tiếp nhận tin báo về 02 vụ Cướp giật tài sản trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật. Quá trình điều tra, ngày 03/02/2022, chị Vũ Thị N đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A02 màu đen mà chị N đã mua của Chu Tuấn A vào ngày 02/02/2022 như đã nêu trên.

Ngày 03/02/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra Yêu cầu định giá tài sản số 73, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường tiến hành định giá xác định giá trị của 02 chiếc điện thoại mà Chu Tuấn A cướp giật được của cháu T và cháu Q như đã nêu trên.

Ngày 25/02/2022, Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường đã có bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL- HĐĐGTTHS, kết luận:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11Promax, màu xanh- đen, số Imei: 353965101789540. Điện thoại đã cũ và đã qua sử dụng có giá trị: 14.500.000đ (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A02 màu đen, số Imei1: 353112441173784, số Imei2: 356087261173782. Điện thoại đã cũ và đã qua sử dụng có giá trị: 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị của các tài sản có đặc điểm nêu trên là: 15.650.000đ (Mười năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận định giá tài sản nêu trên cho bị cáo Chu Tuấn A, cháu Nguyễn Hoàng T, cháu Lê Bảo Q, anh Nguyễn Xuân T và anh Lê Đăng T biết. Sau khi được thông báo thì tất cả những người nêu trên đều đồng ý với nội dung kết luận định giá tài sản, không ai có ý kiến thắc mắc gì.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Chu Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật chiếc điện thoại của cháu Nguyễn Hoàng T và cháu Lê Bảo Q như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo A phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường.

Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 15/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Chu Tuấn A về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Tuấn A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù đến 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/3/2022.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người không có công việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án đề nghị xác nhận biên bản trao trả tài sản cho người bị hại là hợp pháp.

Bị cáo Chu Tuấn A không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Chu Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận: Trong các ngày 01/02/2022 và 02/02/2022, Chu Tuấn A đã thực hiện hành vi Cướp giật tài sản trên địa bàn thị trấn T, huyện Vĩnh Tường với tổng giá trị tài sản là 15.650.000đ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 01/02/2022, Chu Tuấn A đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH Mode, màu đen - xám, BKS: 88L1-674.51 để đi đến khu vực đầu ngõ 20, đường Nguyễn Thái Học thuộc tổ dân phố Đông Cả, thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc và cướp giật được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh- đen trị giá 14.500.000đ của cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12/8/2014.

Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 02/02/2022, Chu Tuấn A đã sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu vàng- nâu, BKS: 88L1- 619.06 để đi đến khu vực đầu ngõ 23, đường Phạm Ngọc Thạch thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc và cướp giật được 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A02, màu đen trị giá 1.150.000đ của cháu Lê Bảo Q, sinh ngày 06/12/2011.

Hành vi Cướp giật tài sản của bị cáo Chu Tuấn A đối với hai cháu nhỏ chưa đủ 16 tuổi đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Khoản 1, khoản 2 Điều 171 BLHS quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

...

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi....”

. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo rất táo bạo, liều lĩnh, bị cáo ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của cháu nhỏ chưa đủ 16 tuổi, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo nên tâm lý, hoang mang lo sợ cho nhân dân. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức hành vi cướp giật tài sản của ngườ i khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng chỉ vì tham lam , muốn có tiền tiêu xài nên bi ̣ cáo đã cố tình thực hiện tội phạm , chứng tỏ bi ̣ cáo c ó thái độ xem thườ ng pháp luật . Do vậy phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục phòng ngừa riêng, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu: Ngày 04/8/2016, bị Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 30/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 25/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 09/02/2018 Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 57/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 2 tháng tù; ngày 12/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã tổng hợp hình phạt của 03 bản án trên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 11 tháng tù, ngày 26/10/2019 Chu Tuấn A chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền án ngày 29/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 23/01/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, sau khi bị cáo trở về địa phương không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện liên tiếp các hành vi phạm tội. Đối với lần phạm tội này do bị cáo chưa được xóa án tích mà lại phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đó là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm”. Tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra tự thú, sau đó bị cáo và gia đình đã nộp tiền chuộc lại tài sản để trả cho người bị hại, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo có ông ngoại là Dương Hùng V là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến, do vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt nhưng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống một thời gian theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về mức hình phạt: Tại bản án số 07/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án này và tổng hợp với hình phạt của Bản án số 07/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người không có nghề nghiệp và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Chu Tuấn A đã tác động để ông Chu Văn Tuấn (bố đẻ bị cáo) trả cho anh Đỗ Văn P số tiền 3.400.000đ để chuộc lại chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh- đen trả lại cho người bị hại là cháu Nguyễn Hoàng T. Bà Dương Thị Thu H (mẹ đẻ bị cáo) trả cho chị Vũ Thị N số tiền 1.300.000đ để mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy A02 màu đen để trả lại cho cháu Lê Bảo Q. Sau khi nhận đủ tiền anh P, chị N không yêu cầu Chu Tuấn A phải bồi thường gì thêm. Ông Tuấn, bà H không yêu cầu đề nghị gì về số tiền mà ông T, bà H bỏ ra để trả cho anh P, chị N. Cháu Nguyễn Hoàng T, cháu Lê Bảo Q và những người đại diện là anh Nguyễn Xuân T (bố cháu T), anh Lê Đăng T (bố cháu Q) đều không yêu cầu Chu Tuấn A phải bồi thường gì. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản tại địa bàn thị trấn T, huyện Vĩnh Tường như đã nêu trên thì ngày 13/3/2022, Chu Tuấn A tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn N, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai đưa ra xét xử ngày 31/5/2022 và xử phạt Chu Tuấn A 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện nay bị cáo đang phải đi chấp hành án đối với bản án nêu trên.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh- đen và Samsung Galaxy A02 màu đen mà Chu Tuấn A cướp giật của cháu Nguyễn Hoàng T và cháu Lê Bảo Q. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh- đen là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T (bố cháu T) và chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A02 màu đen là tài sản hợp pháp của anh Lê Đăng T (bố cháu Q). Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T và anh T các tài sản nêu trên theo quy định. Nhận lại tài sản, anh T và anh T không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH Mode, màu đen-xám, BKS: 88L1- 674.51 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu vàng- nâu, BKS: 88L1- 619.06 mà Chu Tuấn A sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản như đã nêu trên. Quá trình điều tra xác định 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH Mode, màu đen- xám, BKS: 88L1- 674.51 là tài sản hợp pháp của ông Chu văn T (bố đẻ Chu Tuấn A) và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu vàng- nâu, BKS: 88L1- 619.06 là tài sản hợp pháp của chị Chu Thị Hương L, sinh năm 1997 (là chị gái của Chu Tuấn A). Ngày 01/02/2022 và 02/02/2022 Chu Tuấn A mượn của ông T và chị L chiếc xe mô tô nêu trên rồi sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản thì ông T và chị L hoàn toàn không biết và không liên quan gì. Sau khi sử dụng 02 chiếc xe mô tô nêu trên để đi cướp giật tài sản thì Chu Tuấn A đã mang về trả lại cho ông T và chị L. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường không đề cập xử lý đối với ông T và chị L, đồng thời không tiến hành thu giữ 02 chiếc xe mô tô của ông T và chị L là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Chu Tuấn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/3/2022.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buô ̣c bị cáo Chu Tuấn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ